DanLuat 2015
 
Hiển thị 1-20 trong 32635 thuật ngữ
1.632 Trang 12345>»
Thuật ngữ Mô tả Nguồn
Biện pháp cưỡng chế của Liên hợp quốc Chế tài được áp dụng theo quyết định của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhằm loại trừ mối đe doạ đối với hoà bình, an ninh quốc tế, loại trừ sự vi phạm hòa bình và hành vi xâm lược. Để chấm dứt các cuộc xung đột vũ trang có nguy hại đến nền hoà bình thế giới hoặc có hành vi xâm lược. Biện pháp cưỡng chế có thể là các biện pháp phi vũ lực theo quy định tại Điều 41 - Hiến chương Liên hợp quốc (vd. cắt đứt toàn bộ hoặc một phần quan hệ kinh tế, cắt đứt các phương tiện thông tin liên lạc, giao lưu hàng hải, hàng không, đường sắt ...), hoặc các biện pháp dùng lực lượng vũ trang liên quân của các thành viên Liên hợp quốc. Hội đồng bảo an là cơ quan duy nhất trong hệ thống Liên hợp quốc có toàn quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhân danh Liên hợp quốc, trên cơ sở quyết định phù hợp với nguyên tắc nhất trí của các uỷ viên thường trực của Hội đồng bảo an. Hội đồng bảo an cũng vận dụng các thoả hiệp khu vực hoặc các cơ quan khu vực để thực hiện việc cưỡng chế dưới sự chỉ đạo của Hội đồng bảo an, hoặc uỷ quyền cho các cơ quan đó thực hiện biện pháp cưỡng chế, trừ trường hợp quy định tại Điều 53, 107 - Hiến chương Liên hợp quốc. Đây là các biện pháp chế tài áp dụng đối với những nước thù địch trong Chiến tranh thế giới II và những nước tái diễn hành vi xâm lược chống các nước thành viên khác. Các biện pháp cưỡng chế kém phần hiệu quả do chính sách dung túng của các thế lực phản động quốc tế. Từ điển Luật học trang 48
Biện pháp cưỡng chế của Liên hợp quốc Chế tài được áp dụng theo quyết định của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhằm loại trừ mối đe doạ đối với hoà bình, an ninh quốc tế, loại trừ sự vi phạm hòa bình và hành vi xâm lược. Để chấm dứt các cuộc xung đột vũ trang có nguy hại đến nền hoà bình thế giới hoặc có hành vi xâm lược. Biện pháp cưỡng chế có thể là các biện pháp phi vũ lực theo quy định tại Điều 41 - Hiến chương Liên hợp quốc (vd. cắt đứt toàn bộ hoặc một phần quan hệ kinh tế, cắt đứt các phương tiện thông tin liên lạc, giao lưu hàng hải, hàng không, đường sắt ...), hoặc các biện pháp dùng lực lượng vũ trang liên quân của các thành viên Liên hợp quốc. Hội đồng bảo an là cơ quan duy nhất trong hệ thống Liên hợp quốc có toàn quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhân danh Liên hợp quốc, trên cơ sở quyết định phù hợp với nguyên tắc nhất trí của các uỷ viên thường trực của Hội đồng bảo an. Hội đồng bảo an cũng vận dụng các thoả hiệp khu vực hoặc các cơ quan khu vực để thực hiện việc cưỡng chế dưới sự chỉ đạo của Hội đồng bảo an, hoặc uỷ quyền cho các cơ quan đó thực hiện biện pháp cưỡng chế, trừ trường hợp quy định tại Điều 53, 107 - Hiến chương Liên hợp quốc. Đây là các biện pháp chế tài áp dụng đối với những nước thù địch trong Chiến tranh thế giới II và những nước tái diễn hành vi xâm lược chống các nước thành viên khác. Các biện pháp cưỡng chế kém phần hiệu quả do chính sách dung túng của các thế lực phản động quốc tế. Từ điển Luật học trang 48
Biện pháp cưỡng chế của Liên hợp quốc Chế tài được áp dụng theo quyết định của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhằm loại trừ mối đe doạ đối với hoà bình, an ninh quốc tế, loại trừ sự vi phạm hòa bình và hành vi xâm lược. Để chấm dứt các cuộc xung đột vũ trang có nguy hại đến nền hoà bình thế giới hoặc có hành vi xâm lược. Biện pháp cưỡng chế có thể là các biện pháp phi vũ lực theo quy định tại Điều 41 - Hiến chương Liên hợp quốc (vd. cắt đứt toàn bộ hoặc một phần quan hệ kinh tế, cắt đứt các phương tiện thông tin liên lạc, giao lưu hàng hải, hàng không, đường sắt ...), hoặc các biện pháp dùng lực lượng vũ trang liên quân của các thành viên Liên hợp quốc. Hội đồng bảo an là cơ quan duy nhất trong hệ thống Liên hợp quốc có toàn quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhân danh Liên hợp quốc, trên cơ sở quyết định phù hợp với nguyên tắc nhất trí của các uỷ viên thường trực của Hội đồng bảo an. Hội đồng bảo an cũng vận dụng các thoả hiệp khu vực hoặc các cơ quan khu vực để thực hiện việc cưỡng chế dưới sự chỉ đạo của Hội đồng bảo an, hoặc uỷ quyền cho các cơ quan đó thực hiện biện pháp cưỡng chế, trừ trường hợp quy định tại Điều 53, 107 - Hiến chương Liên hợp quốc. Đây là các biện pháp chế tài áp dụng đối với những nước thù địch trong Chiến tranh thế giới II và những nước tái diễn hành vi xâm lược chống các nước thành viên khác. Các biện pháp cưỡng chế kém phần hiệu quả do chính sách dung túng của các thế lực phản động quốc tế. Từ điển Luật học trang 48
Biện pháp cưỡng chế của Liên hợp quốc Chế tài được áp dụng theo quyết định của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhằm loại trừ mối đe doạ đối với hoà bình, an ninh quốc tế, loại trừ sự vi phạm hòa bình và hành vi xâm lược. Để chấm dứt các cuộc xung đột vũ trang có nguy hại đến nền hoà bình thế giới hoặc có hành vi xâm lược. Biện pháp cưỡng chế có thể là các biện pháp phi vũ lực theo quy định tại Điều 41 - Hiến chương Liên hợp quốc (vd. cắt đứt toàn bộ hoặc một phần quan hệ kinh tế, cắt đứt các phương tiện thông tin liên lạc, giao lưu hàng hải, hàng không, đường sắt ...), hoặc các biện pháp dùng lực lượng vũ trang liên quân của các thành viên Liên hợp quốc. Hội đồng bảo an là cơ quan duy nhất trong hệ thống Liên hợp quốc có toàn quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhân danh Liên hợp quốc, trên cơ sở quyết định phù hợp với nguyên tắc nhất trí của các uỷ viên thường trực của Hội đồng bảo an. Hội đồng bảo an cũng vận dụng các thoả hiệp khu vực hoặc các cơ quan khu vực để thực hiện việc cưỡng chế dưới sự chỉ đạo của Hội đồng bảo an, hoặc uỷ quyền cho các cơ quan đó thực hiện biện pháp cưỡng chế, trừ trường hợp quy định tại Điều 53, 107 - Hiến chương Liên hợp quốc. Đây là các biện pháp chế tài áp dụng đối với những nước thù địch trong Chiến tranh thế giới II và những nước tái diễn hành vi xâm lược chống các nước thành viên khác. Các biện pháp cưỡng chế kém phần hiệu quả do chính sách dung túng của các thế lực phản động quốc tế. Từ điển Luật học trang 48
Bình đẳng Quyền cơ bản của con người không bị phân biệt theo chủng tộc, nòi giống, giai cấp, tôn giáo, giới tính, tài sản được pháp luật của quốc gia bảo đảm. Quyền bình đẳng là thành quả đấu tranh của nhân loại chống chế độ phân chia đẳng cấp của nhà nước phong kiến, được ghi vào Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng" và Tuyên ngôn nhân quyền (quyền con người) và dân quyền (quyền công dân) của Cách mạng Pháp năm 1789 "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Tuy nhiên không phải ở các nước phương Tây đều có bình đẳng, có nước tình trạng bất bình đẳng còn được ghi vào pháp luật. Năm 1948, Liên hợp quốc ra tuyên ngôn toàn thế giới về "nhân quyền", khẳng định ở Điều 1 "Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm chất và các quyền"... Hai công ước quốc tế về quyền con người năm 1966 mà Việt Nam tham gia, lại một lần nữa đề cập đến quyền bình đẳng. Nhân dân tiến bộ trên thế giới vẫn phải tiếp tục cuộc đấu tranh cho quyền bình đẳng vì quyền này gắn liền với chế độ kinh tế, chính trị và xã hội. Quyền bình đẳng phải được cụ thể hóa thành quyền: bình đẳng của công dân trước pháp luật; bình đẳng dân tộc; bình đẳng của phụ nữ với nam giới; bình đẳng trước tòa án. Từ điển Luật học trang 50
Bình đẳng Quyền cơ bản của con người không bị phân biệt theo chủng tộc, nòi giống, giai cấp, tôn giáo, giới tính, tài sản được pháp luật của quốc gia bảo đảm. Quyền bình đẳng là thành quả đấu tranh của nhân loại chống chế độ phân chia đẳng cấp của nhà nước phong kiến, được ghi vào Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng" và Tuyên ngôn nhân quyền (quyền con người) và dân quyền (quyền công dân) của Cách mạng Pháp năm 1789 "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Tuy nhiên không phải ở các nước phương Tây đều có bình đẳng, có nước tình trạng bất bình đẳng còn được ghi vào pháp luật. Năm 1948, Liên hợp quốc ra tuyên ngôn toàn thế giới về "nhân quyền", khẳng định ở Điều 1 "Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm chất và các quyền"... Hai công ước quốc tế về quyền con người năm 1966 mà Việt Nam tham gia, lại một lần nữa đề cập đến quyền bình đẳng. Nhân dân tiến bộ trên thế giới vẫn phải tiếp tục cuộc đấu tranh cho quyền bình đẳng vì quyền này gắn liền với chế độ kinh tế, chính trị và xã hội. Quyền bình đẳng phải được cụ thể hóa thành quyền: bình đẳng của công dân trước pháp luật; bình đẳng dân tộc; bình đẳng của phụ nữ với nam giới; bình đẳng trước tòa án. Từ điển Luật học trang 50
Bình đẳng Quyền cơ bản của con người không bị phân biệt theo chủng tộc, nòi giống, giai cấp, tôn giáo, giới tính, tài sản được pháp luật của quốc gia bảo đảm. Quyền bình đẳng là thành quả đấu tranh của nhân loại chống chế độ phân chia đẳng cấp của nhà nước phong kiến, được ghi vào Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng" và Tuyên ngôn nhân quyền (quyền con người) và dân quyền (quyền công dân) của Cách mạng Pháp năm 1789 "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Tuy nhiên không phải ở các nước phương Tây đều có bình đẳng, có nước tình trạng bất bình đẳng còn được ghi vào pháp luật. Năm 1948, Liên hợp quốc ra tuyên ngôn toàn thế giới về "nhân quyền", khẳng định ở Điều 1 "Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm chất và các quyền"... Hai công ước quốc tế về quyền con người năm 1966 mà Việt Nam tham gia, lại một lần nữa đề cập đến quyền bình đẳng. Nhân dân tiến bộ trên thế giới vẫn phải tiếp tục cuộc đấu tranh cho quyền bình đẳng vì quyền này gắn liền với chế độ kinh tế, chính trị và xã hội. Quyền bình đẳng phải được cụ thể hóa thành quyền: bình đẳng của công dân trước pháp luật; bình đẳng dân tộc; bình đẳng của phụ nữ với nam giới; bình đẳng trước tòa án. Từ điển Luật học trang 50
Bình đẳng Quyền cơ bản của con người không bị phân biệt theo chủng tộc, nòi giống, giai cấp, tôn giáo, giới tính, tài sản được pháp luật của quốc gia bảo đảm. Quyền bình đẳng là thành quả đấu tranh của nhân loại chống chế độ phân chia đẳng cấp của nhà nước phong kiến, được ghi vào Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng" và Tuyên ngôn nhân quyền (quyền con người) và dân quyền (quyền công dân) của Cách mạng Pháp năm 1789 "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Tuy nhiên không phải ở các nước phương Tây đều có bình đẳng, có nước tình trạng bất bình đẳng còn được ghi vào pháp luật. Năm 1948, Liên hợp quốc ra tuyên ngôn toàn thế giới về "nhân quyền", khẳng định ở Điều 1 "Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm chất và các quyền"... Hai công ước quốc tế về quyền con người năm 1966 mà Việt Nam tham gia, lại một lần nữa đề cập đến quyền bình đẳng. Nhân dân tiến bộ trên thế giới vẫn phải tiếp tục cuộc đấu tranh cho quyền bình đẳng vì quyền này gắn liền với chế độ kinh tế, chính trị và xã hội. Quyền bình đẳng phải được cụ thể hóa thành quyền: bình đẳng của công dân trước pháp luật; bình đẳng dân tộc; bình đẳng của phụ nữ với nam giới; bình đẳng trước tòa án. Từ điển Luật học trang 50
"Bản gốc văn bản" của Bộ Giáo dục và Đào tạo Là bản hoàn chỉnh về nội dung, thể thức văn bản có chữ ký trực tiếp của người có thẩm quyền ký ban hành văn bản 155/QĐ-BGDĐT
"Bản gốc văn bản" của Bộ Giáo dục và Đào tạo Là bản hoàn chỉnh về nội dung, thể thức văn bản có chữ ký trực tiếp của người có thẩm quyền ký ban hành văn bản 155/QĐ-BGDĐT
"Bản gốc văn bản" của Bộ Giáo dục và Đào tạo Là bản hoàn chỉnh về nội dung, thể thức văn bản có chữ ký trực tiếp của người có thẩm quyền ký ban hành văn bản 155/QĐ-BGDĐT
"Bản gốc văn bản" của Bộ Giáo dục và Đào tạo Là bản hoàn chỉnh về nội dung, thể thức văn bản có chữ ký trực tiếp của người có thẩm quyền ký ban hành văn bản 155/QĐ-BGDĐT
"Không ai làm quan tòa cho chính mình” (L. nemo esse judex in sua causa), một nguyên tắc xét xử được nêu ra từ thời cổ La Mã. Nó được quy định trong luật pháp của hầu hết các nước của thời kì cận đại và được tiếp tục vận dụng và mở rộng trong luật pháp tiến bộ của các nước ngày nay. Để đảm bảo tính không thiên vị, công bằng và công lí trong xét xử, nguyên tắc “không ai làm quan tòa cho chính mình” còn được mở rộng bằng các quy định cụ thể rằng thẩm phán phải từ chối tham gia xét xử khi giữa thẩm phán ngồi xét xử với bị đơn hoặc nguyên đơn, với bị cáo hoặc bị hại có mối quan hệ thân thích. Từ điển Luật học trang 251
"Không ai làm quan tòa cho chính mình” (L. nemo esse judex in sua causa), một nguyên tắc xét xử được nêu ra từ thời cổ La Mã. Nó được quy định trong luật pháp của hầu hết các nước của thời kì cận đại và được tiếp tục vận dụng và mở rộng trong luật pháp tiến bộ của các nước ngày nay. Để đảm bảo tính không thiên vị, công bằng và công lí trong xét xử, nguyên tắc “không ai làm quan tòa cho chính mình” còn được mở rộng bằng các quy định cụ thể rằng thẩm phán phải từ chối tham gia xét xử khi giữa thẩm phán ngồi xét xử với bị đơn hoặc nguyên đơn, với bị cáo hoặc bị hại có mối quan hệ thân thích. Từ điển Luật học trang 251
"Không ai làm quan tòa cho chính mình” (L. nemo esse judex in sua causa), một nguyên tắc xét xử được nêu ra từ thời cổ La Mã. Nó được quy định trong luật pháp của hầu hết các nước của thời kì cận đại và được tiếp tục vận dụng và mở rộng trong luật pháp tiến bộ của các nước ngày nay. Để đảm bảo tính không thiên vị, công bằng và công lí trong xét xử, nguyên tắc “không ai làm quan tòa cho chính mình” còn được mở rộng bằng các quy định cụ thể rằng thẩm phán phải từ chối tham gia xét xử khi giữa thẩm phán ngồi xét xử với bị đơn hoặc nguyên đơn, với bị cáo hoặc bị hại có mối quan hệ thân thích. Từ điển Luật học trang 251
"Không ai làm quan tòa cho chính mình” (L. nemo esse judex in sua causa), một nguyên tắc xét xử được nêu ra từ thời cổ La Mã. Nó được quy định trong luật pháp của hầu hết các nước của thời kì cận đại và được tiếp tục vận dụng và mở rộng trong luật pháp tiến bộ của các nước ngày nay. Để đảm bảo tính không thiên vị, công bằng và công lí trong xét xử, nguyên tắc “không ai làm quan tòa cho chính mình” còn được mở rộng bằng các quy định cụ thể rằng thẩm phán phải từ chối tham gia xét xử khi giữa thẩm phán ngồi xét xử với bị đơn hoặc nguyên đơn, với bị cáo hoặc bị hại có mối quan hệ thân thích. Từ điển Luật học trang 251
(1) Thiết bị phát tín hiệu định vị khẩn nguy (ELT) là thuật ngữ chung chỉ thiết bị truyền các tín hiệu phân biệt trên tần số quy định, phụ thuộc vào việc sử dụng có thể kích hoạt bởi lực va chạm mạnh hoặc bằng tay, bao gồm các loại thiết bị sau: (i) Loại cố định tự động (ELT(AF)). Loại ELT này tự động kích hoạt và được gắn cố định vào tàu bay; (ii) Loại có thể tháo rời (ELT(AP)). Loại ELT này tự động kích hoạt và được gắn chặt vào tàu bay nhưng dễ dàng tháo ra khỏi tàu bay; (iii) Loại tự động triển khai {ELT(AD)}. Loại ELT này được gắn chặt vào tàu bay và tự động triển khai, kích hoạt khi bị va chạm mạnh, và trong một số trường hợp, nó được triển khai và kích hoạt bởi bộ phận cảm biến thủy tĩnh; loại thiết bị này có thể được triển khai bằng tay; (iv) Loại thiết bị phát tín hiệu định vị khẩn nguy cứu sinh {ELT(S)}. Loại ELT này tháo rời khỏi tàu bay, xếp gọn gàng, dễ dàng cho việc sử dụng trong trường hợp khẩn nguy, được những người trong tình trạng nguy cấp kích hoạt bằng tay 01/2011/TT-BGTVT
(1) Thiết bị phát tín hiệu định vị khẩn nguy (ELT) là thuật ngữ chung chỉ thiết bị truyền các tín hiệu phân biệt trên tần số quy định, phụ thuộc vào việc sử dụng có thể kích hoạt bởi lực va chạm mạnh hoặc bằng tay, bao gồm các loại thiết bị sau: (i) Loại cố định tự động (ELT(AF)). Loại ELT này tự động kích hoạt và được gắn cố định vào tàu bay; (ii) Loại có thể tháo rời (ELT(AP)). Loại ELT này tự động kích hoạt và được gắn chặt vào tàu bay nhưng dễ dàng tháo ra khỏi tàu bay; (iii) Loại tự động triển khai {ELT(AD)}. Loại ELT này được gắn chặt vào tàu bay và tự động triển khai, kích hoạt khi bị va chạm mạnh, và trong một số trường hợp, nó được triển khai và kích hoạt bởi bộ phận cảm biến thủy tĩnh; loại thiết bị này có thể được triển khai bằng tay; (iv) Loại thiết bị phát tín hiệu định vị khẩn nguy cứu sinh {ELT(S)}. Loại ELT này tháo rời khỏi tàu bay, xếp gọn gàng, dễ dàng cho việc sử dụng trong trường hợp khẩn nguy, được những người trong tình trạng nguy cấp kích hoạt bằng tay 01/2011/TT-BGTVT
(1) Thiết bị phát tín hiệu định vị khẩn nguy (ELT) là thuật ngữ chung chỉ thiết bị truyền các tín hiệu phân biệt trên tần số quy định, phụ thuộc vào việc sử dụng có thể kích hoạt bởi lực va chạm mạnh hoặc bằng tay, bao gồm các loại thiết bị sau: (i) Loại cố định tự động (ELT(AF)). Loại ELT này tự động kích hoạt và được gắn cố định vào tàu bay; (ii) Loại có thể tháo rời (ELT(AP)). Loại ELT này tự động kích hoạt và được gắn chặt vào tàu bay nhưng dễ dàng tháo ra khỏi tàu bay; (iii) Loại tự động triển khai {ELT(AD)}. Loại ELT này được gắn chặt vào tàu bay và tự động triển khai, kích hoạt khi bị va chạm mạnh, và trong một số trường hợp, nó được triển khai và kích hoạt bởi bộ phận cảm biến thủy tĩnh; loại thiết bị này có thể được triển khai bằng tay; (iv) Loại thiết bị phát tín hiệu định vị khẩn nguy cứu sinh {ELT(S)}. Loại ELT này tháo rời khỏi tàu bay, xếp gọn gàng, dễ dàng cho việc sử dụng trong trường hợp khẩn nguy, được những người trong tình trạng nguy cấp kích hoạt bằng tay 01/2011/TT-BGTVT
(1) Thiết bị phát tín hiệu định vị khẩn nguy (ELT) là thuật ngữ chung chỉ thiết bị truyền các tín hiệu phân biệt trên tần số quy định, phụ thuộc vào việc sử dụng có thể kích hoạt bởi lực va chạm mạnh hoặc bằng tay, bao gồm các loại thiết bị sau: (i) Loại cố định tự động (ELT(AF)). Loại ELT này tự động kích hoạt và được gắn cố định vào tàu bay; (ii) Loại có thể tháo rời (ELT(AP)). Loại ELT này tự động kích hoạt và được gắn chặt vào tàu bay nhưng dễ dàng tháo ra khỏi tàu bay; (iii) Loại tự động triển khai {ELT(AD)}. Loại ELT này được gắn chặt vào tàu bay và tự động triển khai, kích hoạt khi bị va chạm mạnh, và trong một số trường hợp, nó được triển khai và kích hoạt bởi bộ phận cảm biến thủy tĩnh; loại thiết bị này có thể được triển khai bằng tay; (iv) Loại thiết bị phát tín hiệu định vị khẩn nguy cứu sinh {ELT(S)}. Loại ELT này tháo rời khỏi tàu bay, xếp gọn gàng, dễ dàng cho việc sử dụng trong trường hợp khẩn nguy, được những người trong tình trạng nguy cấp kích hoạt bằng tay 01/2011/TT-BGTVT
(2) Tàu bay được phê chuẩn cho khai thác một người lái Là loại tàu bay được quốc gia đăng ký xác định trong quá trình cấp Giấy chứng nhận có thể khai thác an toàn với tổ lái tối thiểu một thành viên 01/2011/TT-BGTVT
(2) Tàu bay được phê chuẩn cho khai thác một người lái Là loại tàu bay được quốc gia đăng ký xác định trong quá trình cấp Giấy chứng nhận có thể khai thác an toàn với tổ lái tối thiểu một thành viên 01/2011/TT-BGTVT
(2) Tàu bay được phê chuẩn cho khai thác một người lái Là loại tàu bay được quốc gia đăng ký xác định trong quá trình cấp Giấy chứng nhận có thể khai thác an toàn với tổ lái tối thiểu một thành viên 01/2011/TT-BGTVT
(2) Tàu bay được phê chuẩn cho khai thác một người lái Là loại tàu bay được quốc gia đăng ký xác định trong quá trình cấp Giấy chứng nhận có thể khai thác an toàn với tổ lái tối thiểu một thành viên 01/2011/TT-BGTVT
(HLBVĐB) Là phạm vi được xác định từ chân mái đường đắp hoặc mép đỉnh mái đường đào, hoặc từ mép ngoài rãnh dọc hoặc rãnh đỉnh của đường trở ra hai bên đường, là phạm vi để bảo đảm an toàn giao thông và dự phòng khi mở rộng đường. Bề rộng hành lang bảo vệ đường bộ được xác định tuỳ thuộc cấp hạng kỹ thuật của đường và theo quy hoạch tại điều 16 do cấp thẩm quyền Quyết định (gọi tắt là cấp đường quy hoạch) 110/2004/QĐ-UB
. Bên nhận là các Tổng công ty Điện lực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam hoặc các công ty Điện lực được các Tổng công ty Điện lực ủy quyền 32/2013/TTLT-BCT-BTC
. Cơ sở chăn nuôi động vật tập trung Là cơ sở chăn nuôi của các tổ chức, cá nhân chăn nuôi đủ tiêu chí quy mô trang trại 09/2012/QĐ-UBND
. Điểm dân cư nông thôn Là nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vực nhất định bao gồm trung tâm xã, thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc (sau đây gọi chung là thôn) được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá, phong tục, tập quán và các yếu tố khác 32/2009/TT-BXD
. Điều lệ là Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Lương thực miền Nam - Công ty TNHH một thành viên 119/QĐ-BNN-QLDN
. Đội dân phòng là tổ chức gồm những người tham gia hoạt động phòng cháy và chữa cháy, giữ gìn an ninh trật tự ở nơi cư trú 17/VBHN-VPQH
. Đường dành riêng cho các phương tiện thô sơ và người đi bộ Là tuyến đường hoặc phần đường, được phân biệt với phần đường dành riêng cho phương tiện cơ giới bằng các dải phân cách hoặc vạch sơn dọc liền 17/2012/TT-BGTVT
. Mạng Internet là mạng máy tính toàn cầu, kết nối tới rất nhiều máy tính và mạng máy tính con trên toàn thế giới. 49/2013/QĐ-UBND
1.632 Trang 12345>»