Phân cấp bậc thành viên mới từ tháng 6/2014
  • Trang nhất
  • Luật Sư Tư Vấn
  • Cùng Thảo Luận
  • Tìm Luật Sư
  • Thành Viên
  • Trang Của Tôi

thủ tục hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân?

Chủ đề   RSS   
  • #14637 02/12/2009

    bienk1a

    Sơ sinh

    Bắc Giang, Việt Nam
    Tham gia:06/11/2008
    Tổng số bài viết (13)
    Số điểm: 255
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    thủ tục hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân?

    thủ tục hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân ?
     

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #14638   02/12/2008

    nguyenquan78
    nguyenquan78
    Top 200
    Lớp 1

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:08/09/2008
    Tổng số bài viết (142)
    Số điểm: 2849
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 12 lần


    thủ tục hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân ?

    Cá nhân có quyền hiến bộ phận cơ thể của mình vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học. Việc hiến và sử dụng bộ phận cơ thể được thực hiện theo quy định của pháp luật (Đ 33 BLDS)

    Bạn có thể đọc bài này để biết thêm:

    "Tôi già rồi, chẳng biết sống chết bất chợt thế nào. Khi quyết định hiến xác, tôi không có yêu cầu gì hết. Chỉ có một điều lo lắng là khi có chuyện xảy ra liệu con cháu có kịp thời báo cho bệnh viện để cơ thể mình vẫn còn có ích cho khoa học…".

    Ông Quỳnh, một trong những người gửi đơn tình nguyện hiến xác hiện đang sống tại Hà Nội lo lắng nhất về điều đó sau khi qua đời. Cho đến khi chúng tôi đến gặp ông thì tất cả 5 người con vẫn hoàn toàn không biết gì về thông tin này. Ông không muốn cho họ biết cũng bởi ông hiểu rằng chẳng có ai chấp nhận ngay quyết định của ông.

    #00ff00" face="Arial" size="2">Theo quy định, một người muốn hiến xác phải viết một lá đơn tình nguyện gửi đến Viện giải phẫu hoặc Trường ĐH Y Hà Nội (cũng có trường hợp người đó trực tiếp đến Viện để đề đạt mong muốn của mình). Ngay sau khi nhận được thư, Viện sẽ gửi thư phúc đáp trở lại tới gia đình của người muốn hiến xác. Trong thư có lời cảm ơn tới họ và cũng hướng dẫn những thủ tục cần thiết, đặc biệt là về phía thân nhân của đương sự.

    #00ff00" face="Arial" size="2">Đơn của đương sự tốt nhất là có chữ ký đồng ý của người thân. Mặc dù cá nhân có quyền tự định đoạt đối với các bộ phận cơ thể và xác của mình sau khi chết nhưng khi họ nhắm mắt xuôi tay tự họ lại không thể thực hiện được ý nguyện của mình. Khi đó nếu người thân không báo cho đơn vị nhận xác thì coi như việc làm từ thiện đầy nhân ái đó cũng chẳng còn ý nghĩa.

    “Con nào mà chẳng thương bố mẹ. Chúng nó chắc chắn không muốn tôi làm chuyện này. Ai cũng mong người sinh thành ra mình được nguyên vẹn sau khi chết. Tư tưởng đó ăn sâu vào văn hóa của người Việt mình rồi”, ông Quỳnh nói.

    Để đưa ra quyết định này ông Quỳnh cũng đã trăn trở rất nhiều, “5-6 năm đấu tranh tư tưởng, một mình vật lộn với những suy nghĩ của mình”. Từng là giáo viên vào Nam ra Bắc, từng là bộ đội trực tiếp chiến đấu trên mặt trận, có lẽ ông hiểu rõ hơn ai hết ý nghĩa của cuộc sống.

    Ông nói: “Tôi biết là hiện nay sinh viên không có đủ xác để học tập. Tôi 71 tuổi rồi, chẳng biết sống chết thế nào. Tôi chỉ muốn thân xác mình có ích cho Y học, giúp được cho sinh viên có điều kiện thực nghiệm nâng cao tay nghề. Tôi rất muốn khi còn ở trong tình trạng chết lâm sàng, các bác sĩ có thể tiến hành mổ “tươi”, để sinh viên có thể tận mắt chứng kiến các bộ phận trong cơ thể hoạt động như thế nào”.

    Hiến xác là một điều dường như còn rất xa lạ với mọi người. Trên thực tế, không mấy ai có ý nguyện sau khi chết sẽ hiến cơ thể mình cho Y học. Một phần vì họ không biết và phần nữa do họ không muốn đã chết rồi mà còn bị “banh thây”. Thậm chí khi họ muốn hiến xác thì những người thân trong gia đình cũng khó có thể chấp thuận.

    Ông Nguyễn Văn Huy, trưởng bộ môn giải phẫu học ĐH Y Hà Nội cho biết trong vòng 5 năm qua Viện chỉ nhận được 6 xác hiến. Trong khi một năm cần ít nhất là 8 xác. Do thiếu xác nên sinh viên không có điều kiện tự thực hành mà chỉ được quan sát thao tác của giảng viên.

    Hiện tại Viện nhận được trên 100 thư mong muốn được hiến xác, song không thấy phản hồi gì từ phía gia đình họ sau khi Viện gửi thư phúc đáp.

    “Nếu như gia đình họ không đồng ý thì chúng tôi cũng không thể nhận xác được. Chúng tôi không thể theo dõi thường xuyên tất cả các trường hợp gửi đơn và cũng không biết được khi nào họ qua đời. ý nguyện của đương sự phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình họ. Một khi gia đình không báo thì chúng tôi cũng không thể nào biết. Chúng tôi không thể giành giật thi thể người chết với chính những người thân của họ”, ông Huy tâm sự.

    Vì dân không biết và hiểu lơ mơ

    Xác được hiến sẽ giúp ích nhiều trong nghiên cứu khoa học về y tế.

    Khi trao đổi với ông Huy về vấn đề này, chúng tôi được biết trong số thư gửi đến Viện chỉ có khoảng 10% là những người muốn hiến thực sự. Có những trường hợp khi cán bộ của Viện xuống gia đình để cảm ơn và trao đổi thì họ trả lời là viết thử cho vui. Rồi còn nhiều người do khúc mắc gia đình nên có quyết định không sáng suốt. Thậm chí có cả những người không được bình thường về mặt thần kinh cũng gửi đơn. Điều này làm cho những cán bộ ở đây vừa mất thời gian, vừa giảm hi vọng có thể tăng số lượng xác hiến.

    Đối tượng gửi đơn có rất nhiều hoàn cảnh khác nhau song hầu hết là người già. Có người còn đòi hỏi được chăm sóc những tháng năm tuổi già của họ mà điều đó thì Viện không thể đáp ứng. Hiến xác là việc hoàn toàn tự nguyện và người có ý nguyện này phải hiểu được điều đó. Viện chỉ hỗ trợ một phần tang lễ, hỏa táng hoặc chôn cất sau khi xác đã được phẫu tích phục vụ Y học.

    Ông Huy cho biết, Viện đang cố gắng tuyên truyền tới mọi người tất cả những thông tin liên quan đến việc hiến xác để tránh tình trạng không biết và hiểu sai. Ông cũng mong muốn mỗi năm có thể tổ chức được “Lễ tri ân” để tỏ lòng biết ơn đến những người đã hi sinh cho nền Y học nước nhà.

    • Mỹ Dung

    Việt Báo (Theo_VietNamNet)
     
    Báo quản trị |  
  • #14639   02/12/2008

    hoanglsu
    hoanglsu
    Top 500
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:26/08/2008
    Tổng số bài viết (70)
    Số điểm: 340
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 3 lần


    Xin bổ sung về thủ tục!

    Thủ tục hiến xác, bộ phận trên cơ thể sống được quy định theo Luật số 75/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 về Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác. Đồng thời thực hiện theo Nghị định số 56/2008/NĐ-CP ngày  29/04/2008 quy định về tổ chức, hoạt động của ngân hàng mô và trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người; Quyết định số 06/2008/QĐ-BYT ngày 14/2/2008 của Bộ Y tế … 
     Cụ thể theo Luật có một số quy định sau:
    Điều 12. Thủ tục đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống
    1. Người có đủ điều kiện quy định tại Điều 5 của Luật này có quyền bày tỏ nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể của mình với cơ sở y tế.
    2. Khi nhận được thông tin của người có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể người, cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người.
    3. Khi nhận được thông báo về trường hợp hiến mô, bộ phận cơ thể người, Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người có trách nhiệm thông báo cho cơ sở y tế quy định tại Điều 16 của Luật này để tiến hành các thủ tục đăng ký cho người hiến.
    4. Khi nhận được thông báo của Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, cơ sở y tế quy định tại Điều 16 của Luật này có trách nhiệm sau đây:
    a) Trực tiếp gặp người hiến để tư vấn về các thông tin có liên quan đến hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người;
    b) Hướng dẫn việc đăng ký hiến theo mẫu đơn; thực hiện việc kiểm tra sức khỏe cho người hiến;
    c) Báo cáo danh sách người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống cho Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người.
    5. Việc đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống có hiệu lực kể từ khi cơ sở y tế nhận đơn đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống.
    6. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định mẫu đơn đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống; việc tư vấn, kiểm tra sức khỏe cho người hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống.
    Điều 19. Thủ tục đăng ký hiến xác
    1. Người có đủ điều kiện quy định tại Điều 5 của Luật này có quyền bày tỏ nguyện vọng hiến xác với cơ sở y tế.
    2. Khi nhận được thông tin của người có nguyện vọng hiến xác, cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo cho cơ sở tiếp nhận và bảo quản xác của người hiến quy định tại Điều 23 của Luật này.
    3. Khi nhận được thông báo về trường hợp hiến xác, cơ sở tiếp nhận và bảo quản xác của người hiến có trách nhiệm sau đây:
    a) Trực tiếp gặp người hiến để tư vấn về các thông tin có liên quan về hiến xác;
    b) Hướng dẫn việc đăng ký hiến theo mẫu đơn;
    c) Cấp thẻ đăng ký hiến xác cho người hiến.
    4. Việc đăng ký hiến xác có hiệu lực kể từ khi người đăng ký được cấp thẻ đăng ký hiến.
    5. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định mẫu đơn đăng ký hiến xác; việc tư vấn cho người hiến xác.

     Mẫu đơn, có thể tham khảo Quyết định số 07/2008QĐ-BYT ngày 14/2/2008 của Bộ Y tế về việc ban hành các mẫu đơn tự nguyện hiến, hủy đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống, sau khi chết và hiến xác; các mẫu thẻ đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết và hiến xác.                                                     

     
    Báo quản trị |  
  • #14640   02/12/2009

    huangads33c
    huangads33c

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:29/08/2009
    Tổng số bài viết (7)
    Số điểm: 95
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 3 lần


    thủ tục hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân?

    #ccc" align="center">

    Quyền hiến bộ phận cơ thể

    TS. Nguyễn Thị Quế Anh
    CN Nguyễn Bích Thảo

    1. Quyền hiến bộ phận cơ thể trong hệ thống các quyền nhân thân

    Cùng với sự phát triển của xã hội, các quyền con người, quyền của cá nhân trong đó có quyền nhân thân ngày càng được tôn trọng và bảo vệ bằng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau. Một xu hướng đang diễn ra phổ biến hiện nay là các giá trị nhân thân ngày càng được đề cao và được ghi nhận ngày càng nhiều hơn trong pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế. Sở dĩ như vậy vì xã hội càng phát triển, các quan hệ xã hội càng đa dạng, phức tạp, nhu cầu của con người cũng ngày một tăng lên cả về vật chất và tinh thần, đặc biệt là nhu cầu về tinh thần.

    Giá trị nhân thân là những giá trị gắn liền với cá nhân mỗi con người, chúng tồn tại không phụ thuộc vào mức độ và tính chất điều chỉnh của các quy phạm pháp luật. Trong những năm gần đây, dưới ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc tế…, hệ thống các quyền nhân thân trong pháp luật các nước ngày càng được mở rộng với sự ghi nhận nhiều quyền mới như quyền hiến bộ phận cơ thể, quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết, quyền nhận bộ phận cơ thể, quyền xác định lại giới tính… Pháp luật Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó.

    Với tư cách là một quyền nhân thân, quyền hiến bộ phận cơ thể mang những đặc điểm chung của quyền nhân thân, đó là:

    Thứ nhất, tính chất cá nhân tuyệt đối. Quyền nhân thân luôn gắn với một cá nhân xác định, không được phép chuyển giao cho người khác. Quyền nhân thân thuộc về cá nhân cụ thể từ khi người đó được sinh ra hoặc theo những căn cứ khác do pháp luật quy định. Là các yếu tố cấu thành không thể tách rời khỏi cá nhân chủ thể, những giá trị nhân thân được cá thể hoá, làm cho bản thân người mang các giá trị đó là hoàn toàn không thể lặp lại. Những quyền nhân thân này ứng với mỗi cá nhân, sẽ cho phép cá nhân khẳng định họ, là chính họ mà không phải ai khác, họ là một chủ thể độc lập trước cộng đồng.

    Thứ hai, tính không được xác định bằng tiền. Về cơ bản, chủ thể của quyền nhân thân chỉ được hưởng lợi ích tinh thần mà không được hưởng lợi ích vật chất. Bên cạnh đó, có những trường hợp đặc biệt, quyền nhân thân mang lại lợi ích vật chất cho chủ thể quyền. Những lợi ích vật chất mà chủ thể quyền được hưởng ở đây có được là do giá trị tinh thần mang lại (ví dụ: trường hợp góp vốn bằng uy tín trong một doanh nghiệp). Như vậy, một trong những tiêu chí phân loại quyền nhân thân là dựa vào yếu tố tài sản, theo đó, có thể chia quyền nhân thân làm 2 loại: quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản. Theo cách phân loại này, quyền hiến bộ phận cơ thể thuộc nhóm quyền nhân thân không gắn với tài sản.

    Thứ ba, quyền nhân thân được xác lập không phải dựa trên các sự kiện pháp lý mà chúng được xác lập trực tiếp trên cơ sở những quy định của pháp luật

    Thứ tư, quyền nhân thân là một loại quyền tuyệt đối. Người có quyền này đối kháng với một phạm vi không xác định các chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng giá trị nhân thân được bảo vệ.

    Bên cạnh các đặc điểm chung của quyền nhân thân, quyền hiến bộ phận cơ thể còn có đặc điểm riêng biệt, đó là: mục đích chủ yếu của việc thực hiện quyền này không phải đem lại lợi ích cho chủ thể quyền như đại đa số các quyền nhân thân khác, mà nhằm đem lại lợi ích cho người khác, lợi ích cho toàn xã hội. Lợi ích mà chủ thể quyền đạt được chủ yếu là lợi ích tinh thần, là niềm vui khi cứu sống được người khác đang mắc bệnh hiểm nghèo, đặc biệt khi người bệnh lại là người thân thích, ruột thịt của mình; hoặc niềm vui khi thấy mình cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Lợi ích vật chất có thể có nhưng không phải là chính yếu, chẳng hạn như: được chăm sóc, phục hồi sức khoẻ miễn phí, được ưu tiên ghép mô, bộ phận cơ thể người khi người đó có nhu cầu… Lợi ích của chủ thể quyền thực sự rất khiêm tốn so với lợi ích to lớn mà xã hội nhận được từ việc người đó thực hiện quyền của mình. Đặc trưng này chỉ có ở 2 quyền nhân thân đặc thù: quyền hiến bộ phận cơ thể và quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết.

    Vậy tại sao lại coi “hiến bộ phận cơ thể” là một “quyền”, trong khi lợi ích mà nó mang lại cho chủ thể quyền hầu như không đáng kể? Có thể lý giải như sau: Nói đến “quyền” là nói đến sự tự do ý chí lựa chọn hành động của chủ thể trong khuôn khổ pháp luật. Rõ ràng, mỗi cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền tự quyết định đối với thân thể của mình, không ai có quyền can thiệp hay ngăn cản. Khi một cá nhân đã có nguyện vọng hiến bộ phận cơ thể của mình để chữa bệnh hoặc nghiên cứu khoa học, thì những người khác, kể cả những người thân thích, ruột thịt cũng không được cản trở. Thông thường, việc hiến bộ phận cơ thể không chỉ là một quyết định khó khăn đối với người hiến mà còn có thể tác động lớn về mặt tinh thần đối với gia đình, với những người thân thích của người đó, bởi không ai muốn bản thân mình và những người thân yêu của mình có một cơ thể không toàn vẹn. Vì vậy, việc ghi nhận “quyền” hiến bộ phận cơ thể chính là một bảo đảm cho sự tự do ý chí lựa chọn hành động của các cá nhân trong lĩnh vực đặc thù và hết sức nhạy cảm này. Tuy nhiên, dù cho mỗi cá nhân có quyền tự quyết định, tự định đoạt đối với thân thể của mình, nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật. Pháp luật đa số các nước không cho phép mua bán bộ phận cơ thể người như là một loại tài sản, bởi nếu cân nhắc giữa việc đảm bảo tự do ý chí của mỗi cá nhân với bảo vệ trật tự công cộng và đạo đức xã hội thì rõ ràng phải ưu tiên cái thứ hai.

    Trong các quyền nhân thân, có hai quyền liên quan chặt chẽ đến quyền hiến bộ phận cơ thể là quyền  hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết và quyền nhận bộ phận cơ thể người.

    Quyền hiến bộ phận cơ thể và quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết thực ra không khác nhau về bản chất, đều là quyền thể hiện ý chí tự nguyện hiến tặng bộ phận cơ thể mình vì mục đích chữa bệnh hoặc nghiên cứu khoa học. Do đó quyền hiến bộ phận cơ thể phải được hiểu là một quyền thống nhất, chứ không nên hiểu đây là hai quyền độc lập, tách biệt nhau (quyền hiến khi còn sống và quyền hiến khi chết). Để thực hiện quyền này, trong cả hai trường hợp, cá nhân đều phải thể hiện ý chí tự nguyện hiến tặng khi người đó còn sống và còn minh mẫn, sáng suốt. Còn việc lấy bộ phận của người hiến được thực hiện khi người đó còn sống hay đã chết tuỳ theo trước tiên là ý nguyện của người hiến, ngoài ra còn căn cứ vào đặc điểm của bộ phận cơ thể được hiến. Khi lấy đi một bộ phận cơ thể, tuỳ thuộc vào chức năng của từng bộ phận mà nó sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của người hiến ở các mức độ khác nhau: có thể là ảnh hưởng không lớn (ví dụ: thận, gan), nhưng có thể ảnh hưởng quyết định đến sự sinh tồn của cá nhân (ví dụ: tim). Vì vậy, quyền hiến bộ phận cơ thể không phải lúc nào cũng thực hiện được khi người hiến còn sống.

    Còn quyền hiến và quyền nhận bộ phận cơ thể người thực chất là hai mặt của một quan hệ: một bên là chủ thể hiến có quyền hiến, một bên là chủ thể nhận có quyền nhận. Quyền hiến là tiền đề cho quyền nhận. Tuy nhiên, mặc dù hiến-nhận là hai mặt của một quá trình nhưng việc thực thi quyền nhận sẽ phức tạp, nhạy cảm hơn quyền hiến, nếu không thực hiện tốt sẽ gây phản ứng xã hội không tốt, ảnh hưởng trở lại đến chính quyền hiến của cá nhân, làm mất ý nghĩa tốt đẹp của quyền hiến. Bởi vì ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng xảy ra tình trạng mất cân bằng giữa nhu cầu lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người với khả năng cung cấp các bộ phận này. Nhu cầu luôn vượt xa so với khả năng đáp ứng. Nguyên nhân chính là do về mặt tâm lý xã hội, mọi người đều muốn có một cơ thể toàn vẹn ngay cả khi đã chết và họ thường rất e ngại khi quyết định hiến bộ phận cơ thể cho người khác, trừ khi đó là người thân thích, ruột thịt của mình. Ngay cả khi bản thân người đó đồng ý hiến bộ phận cơ thể thì những người thân trong gia đình cũng phản đối và tìm cách ngăn cản. Vì vậy, mục đích chủ yếu của pháp luật về hiến bộ phận cơ thể ở các quốc gia là thiết lập một cơ chế phân bổ một cách công bằng, bình đẳng nguồn “tài nguyên” chữa bệnh quý giá và khan hiếm này cho những bệnh nhân nguy kịch nhất, hiểm nghèo nhất.

    2. Sự cần thiết ghi nhận và bảo vệ quyền hiến bộ phận cơ thể bằng pháp luật dân sự

    Ngày nay, việc hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người đã trở nên phổ biến trên thế giới. Để tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người, đa số các nước trên thế giới đều có đạo luật riêng về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người như Pháp, Mỹ, Canađa, úc, Bỉ, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan … nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc gặp phải trong việc cho – nhận bộ phận cơ thể người, hỗ trợ, định hướng cho phép ngành y tế phát huy tối đa các thành tựu của mình chữa bệnh phục vụ nhân dân; đảm bảo an toàn nghề nghiệp cho đội ngũ bác sĩ thực hiện phẫu thuật lấy, ghép bộ phận cơ thể; bảo vệ người bệnh và đảm bảo quyền lợi của người hiến tặng vì sự phát triển của khoa học và sự tiến bộ chung của loài người.

    ở các nước châu Âu, các quy định pháp luật về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người đã được triển khai thực hiện từ rất sớm, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành phẫu thuật ghép mô, bộ phận cơ thể người phát triển một cách mạnh mẽ vào những thập kỷ gần đây như: Pháp năm 1952, Vương quốc Anh năm 1961, Đan Mạch, Italia năm 1967, Na-Uy năm 1973, Thuỵ Điển năm 1975; Hy Lạp năm 1983…. Tại các nước châu á, từ năm 1959 đến nay, nhiều nước như Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Philippine, Singapore, Malaysia, Indonesia… đều đã có Luật quy định về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người. Chính vì lý do trên, số bệnh nhân được ghép mô, bộ phận cơ thể người ở các nước này ngày càng tăng lên nhanh chóng.

    ở nước ta, nhu cầu được ghép mô, bộ phận cơ thể người rất lớn và ngày càng gia tăng[1]. Trước nhu cầu cấp bách đó, ngay từ năm 1992, Nhà nước đã đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện, cán bộ nên cho đến nay, Việt Nam đã có 10 bệnh viện có đủ khả năng và điều kiện ghép thận và đã tiến hành thí điểm việc ghép thận, gan. Tính đến nay, Việt Nam đã ghép thành công được 163 ca, trong đó có 158 ca ghép thận, 04 ca ghép gan và 01 ca ghép tủy. Tất cả các ca ghép này đều lấy thận, gan của người sống là cha, mẹ, anh, chị, em trong gia đình, cùng huyết thống, có các chỉ số sinh học tương đương.

    Để đạt được mục tiêu đến năm 2020 có thể thực hiện được khoảng 1.000 ca ghép thận, 80-100 ca ghép gan, 20-30 ca ghép tim và 10-15 ca ghép phổi, 2.000 ca ghép giác mạc, chúng ta phải có nhiều mô, bộ phận cơ thể người hiến tự nguyện, nếu chỉ chờ vào nguồn hiến bộ phận cơ thể người của người thân là không thể đủ. Do đó, việc lấy mô, bộ phận cơ thể ở người hiến tự nguyện ngoài huyết thống là vô cùng cấp thiết.

    Vì vậy, pháp luật cần ghi nhận quyền hiến bộ phận cơ thể cũng như cơ chế thực hiện và bảo vệ quyền này nhằm tạo lập một hành lang pháp lý khuyến khích các cá nhân tự nguyện hiến bộ phận cơ thể của mình vì mục đích nhân đạo.

    Về mặt pháp lý, ở Việt Nam, việc lấy và ghép mô, bộ phận của cơ thể người đã được Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 và Điều lệ Khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng năm 1991 đề cập đến. Tuy nhiên, các quy định này chỉ mang tính nguyên tắc, chưa cụ thể, chưa đầy đủ nên khó thực hiện trong thực tiễn. Nguồn cung cấp các bộ phận cơ thể rất hạn chế trong khi nhu cầu ghép chữa bệnh, nghiên cứu khoa học lại rất lớn gây khó khăn cho sự phát triển của chuyên ngành giải phẫu bệnh, không đảm bảo yêu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân. Do đó, cần phải ban hành những văn bản pháp lý có hiệu lực cao, điều chỉnh hoạt động cho – nhận, ghép, sử dụng các bộ phận cơ thể người để ngành y tế Việt Nam có cơ sở pháp lý vững chắc triển khai các hoạt động này. Trong đó, trước hết pháp luật phải khẳng định, ghi nhận quyền hiến và nhận bộ phận cơ thể người là quyền dân sự của cá nhân, từ đó tạo cơ sở pháp lý để ban hành văn bản pháp luật chuyên ngành về vấn đề hiến và nhận bộ phận cơ thể người.

    3. Nguyên tắc ghi nhận, thực hiện và bảo vệ quyền hiến bộ phận cơ thể

    3.1. Nguyên tắc “phi thương mại”

    Nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong ghi nhận, thực hiện và bảo vệ quyền hiến bộ phận cơ thể là nguyên tắc “phi thương mại”, tức là việc hiến bộ phận cơ thể chỉ nhằm mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học, không nhằm mục đích lợi nhuận. Mục đích của hiến bộ phận cơ thể luôn luôn phải được đặt ra như một sự kiểm soát đặc biệt của pháp luật đối với vấn đề có tính chất xã hội nhạy cảm này. Nguy cơ các bộ phận cơ thể người trở thành hàng hoá giao dịch trên thị trường đang hiện hữu ngày càng rõ nét. Pháp luật một số nước thừa nhận việc mua bán bộ phận cơ thể người, nhưng quan điểm của Việt Nam là không chấp nhận thương mại hoá các bộ phận cơ thể người. Nguyên tắc “phi thương mại” xuất phát từ đối tượng đặc biệt của quyền hiến bộ phận cơ thể là “bộ phận cơ thể người”, đây là những bộ phận tạo nên một con người hoàn chỉnh, gắn liền với sự tồn tại và phát triển bình thường của con người, không thể là vật đem ra mua bán, trao đổi. Hơn nữa, hiến tặng bộ phận cơ thể là nghĩa cử vô cùng cao đẹp – ban tặng niềm hy vọng vào sự hồi sinh, vào cuộc sống mới cho  người khác. Điều quan trọng hơn, một khi hoạt động “bán” bộ phận cơ thể được thừa nhận sẽ dẫn đến tình trạng hết sức nguy hiểm – những khoản lợi nhuận từ hoạt động mua bán này có thể làm cho những kẻ chuyên kinh doanh bộ phận cơ thể người sẵn sàng ép buộc, làm tổn thương người khác, thậm chí giết người để lấy bộ phận cơ thể họ (nguy cơ này càng lớn đối với những người có chỉ số sinh học hiếm gặp). Như thế, quyền hiến bộ phận cơ thể không những không được đảm bảo mà quyền con người còn bị ảnh hưởng nghiêm trọng (quyền được đảm bảo an toàn tính mạng, sức khoẻ, thân thể bị xâm phạm, an toàn xã hội không thể kiểm soát được).

    Vì những lý do nêu trên, pháp luật khi ghi nhận quyền hiến bộ phận cơ thể phải định ra một giới hạn, đó chính là giới hạn về mục đích của việc hiến bộ phận cơ thể. Ngay cả khi một người vì quá túng thiếu muốn bán một bộ phận cơ thể của mình, pháp luật cũng không cho phép, giao dịch đó sẽ là giao dịch vô hiệu tuyệt đối do vi phạm điều cấm của pháp luật, đồng thời giao dịch đó cũng trái với đạo đức xã hội.

    Thực hiện tốt nguyên tắc “phi thương mại” nói trên cũng là một biện pháp đảm bảo sự bình đẳng về quyền nhận bộ phận cơ thể người, bởi nếu cho phép mua bán, sử dụng bộ phận cơ thể người nhằm mục đích lợi nhuận tức là đã không tạo cơ hội chữa bệnh bình đẳng giữa bệnh nhân giàu và bệnh nhân nghèo, những người nghèo sẽ hiếm có cơ hội được ghép mô, bộ phận cơ thể người để chữa trị bệnh. Và nếu như vậy, pháp luật về hiến-nhận bộ phận cơ thể người đã không làm tròn được vai trò của nó.

    3.2. Nguyên tắc hiến bộ phận cơ thể vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học

    Nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc “phi thương mại”, và thực chất là sự cụ thể hoá nguyên tắc đó. Việc hiến bộ phận cơ thể không nhằm mục đích lợi nhuận, nhưng nhằm vào mục đích cụ thể nào? Đó phải là mục đích chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học, trong đó mục đích chữa bệnh là quan trọng, chủ yếu nhất vì nhu cầu lấy bộ phận cơ thể để chữa bệnh cứu người là rất lớn, rất cấp bách. Tại sao lại cần đặt ra nguyên tắc này? Bởi CON NGƯỜI là giá trị cao quý nhất, là trung tâm của mọi chính sách, pháp luật, tất cả là vì con người và cho con người, trong đó, quyền sống là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, là cơ sở để thực hiện các quyền con người khác. Một trong số các biện pháp bảo đảm quyền sống cho con người chính là tạo điều kiện cả về mặt kỹ thuật, cả về mặt pháp lý để y học có thể cứu sống được ngày càng nhiều bệnh nhân hiểm nghèo. Vì vậy, mục đích chữa bệnh của việc hiến bộ phận cơ thể người cần được đặt lên hàng đầu. Bên cạnh đó, hiến bộ phận cơ thể còn nhằm mục đích giảng dạy, nghiên cứu khoa học để ngày càng tìm ra các phương thức chữa bệnh hiệu quả hơn, và suy cho cùng cũng là vì con người.

    3.3. Nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện của người hiến bộ phận cơ thể

    Như đã phân tích ở phần trước, hiến bộ phận cơ thể là quyền của mỗi cá nhân, không phải là nghĩa vụ, không ai có quyền ép buộc hoặc cản trở người hiến thực hiện quyền này. “Tự nguyện” được hiểu là phải có sự thống nhất giữa ý chí bên trong của cá nhân và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài. Vì vậy, muốn chứng tỏ người hiến bộ phận cơ thể hoàn toàn tự nguyện, người đó phải bày tỏ ý chí của mình cho mọi người xung quanh được biết. Do ý nghĩa và tính chất quan trọng của việc hiến bộ phận cơ thể, ý chí của người hiến phải được thể hiện một cách rõ ràng bằng văn bản, chứ không chỉ bằng lời nói như một số giao dịch dân sự thông thường.

    Theo Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác của Việt Nam, sự tự nguyện được thể hiện ở việc đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể người. Người có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật (từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ) có quyền bày tỏ nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể của mình với cơ sở y tế. Người đã đăng ký hiến có quyền thay đổi hoặc huỷ bỏ đơn đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể. Cơ sở y tế chỉ được lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống đã đăng ký hiến. Trong trường hợp cấp cứu mà cần phải ghép mô hoặc cần ghép mô cho cha, mẹ, anh, chị, em ruột thì được phép lấy mô của người chưa đăng ký hiến nếu có sự đồng ý của người đó.

    Để đảm bảo tuân thủ nguyên tắc tự nguyện, người hiến bộ phận cơ thể không những phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà còn phải là người minh mẫn, sáng suốt vào thời điểm thể hiện ý chí hiến bộ phận cơ thể của mình cho người khác mà mục đích hiến đã được xác định rõ ràng[2].

    Nguyên tắc “tự nguyện” được thể hiện trong pháp luật các nước ở các mức độ khác nhau. Nói chung, đối với quyền hiến bộ phận cơ thể ở người sống, người hiến có quyền tự định đoạt cao hơn so với quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết. Vào những thập niên 60, 70 của thế kỷ trước, hầu hết các nước áp dụng chính sách “tự nguyện hiến”. Mỗi cá nhân phải thể hiện rõ ràng ý chí của mình đối với việc hiến bộ phận cơ thể, như: ký tên vào thẻ đăng ký hiến. Nếu như người đó không thể hiện ý chí của mình khi còn sống thì những người thân thích của người đó phải thể hiện sự đồng ý lấy bộ phận cơ thể từ người chết. Bước sang thập niên 80, nhận thấy chính sách nói trên dẫn đến tình trạng số lượng bộ phận cơ thể được hiến tự nguyện rất ít ỏi, không thể đáp ứng được nhu cầu chữa bệnh, nhiều nước đã sửa đổi pháp luật của mình theo hướng thừa nhận nguyên tắc “suy đoán ý chí” (presumed consent). Singapore là nước đầu tiên áp dụng nguyên tắc này và sau đó là một số nước châu Âu như Tây Ban Nha, Áo, Bỉ. Nguyên tắc “suy đoán ý chí” cho phép lấy mô và bộ phận cơ thể người chết trừ khi người đó đã thể hiện rõ ràng sự phản đối khi họ còn sống. Nguyên tắc này được áp dụng ở các mức độ khác nhau: một là, áp dụng ở mức độ “cứng”, theo đó, không cho phép gia đình của người chết can thiệp vào quá trình lấy bộ phận cơ thể; hai là, ở mức độ “mềm”, theo đó, việc lấy mô, bộ phận cơ thể của người chết phải được sự đồng ý của gia đình người đó; ba là, áp dụng ở mức độ “triệt để”, theo đó, một cá nhân phải đăng ký tại toà án về việc mình không muốn hiến bộ phận cơ thể sau khi chết và đó là cách duy nhất để người đó không bị lấy bộ phận cơ thể khi chết (ví dụ: Áo) [3].

    Ở Việt Nam, do quyền hiến bộ phận cơ thể và quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết mới được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự nên không thể áp dụng ngay nguyên tắc “suy đoán ý chí” như ở các nước nói trên, bởi sẽ gây nên sự phản ứng mạnh mẽ từ phía người dân, do đặc điểm tâm lý, văn hoá của người Việt rất coi trọng sự toàn vẹn của cơ thể người sống và sự toàn vẹn của thi hài người quá cố. Tuy nhiên, trong tương lai, khi việc hiến bộ phận cơ thể ở người sống và hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết trở nên phổ biến hơn thì có thể nghiên cứu để từng bước áp dụng nguyên tắc “suy đoán ý chí” một cách phù hợp nhằm làm tăng nguồn cung cấp bộ phận cơ thể phục vụ cho sự nghiệp chữa bệnh cứu người của ngành y tế.

    4. Chủ thể và đối tượng của quyền hiến bộ phận cơ thể

    4.1. Chủ thể quyền

    Giống như chủ thể của các quyền nhân thân khác, chủ thể của quyền hiến bộ phận cơ thể người chỉ có thể là cá nhân. Theo Điều 33 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005, cá nhân có quyền được hiến bộ phận cơ thể của mình vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học. Pháp luật không có bất kỳ một sự phân biệt nào đối với các chủ thể quyền, có nghĩa là xét về mặt năng lực pháp luật, mọi cá nhân có quyền hiến bộ phận cơ thể và quyền này được pháp luật tôn trọng, bảo vệ. Thậm chí, dù một cá nhân có bị pháp luật tước một số quyền công dân vì những lý do khác nhau thì quyền hiến bộ phận cơ thể của người đó vẫn được pháp luật thừa nhận bởi vì quyền này là quyền năng của cá nhân với tư cách là một con người, là một cá thể trong cộng đồng xã hội chứ không phải với một tư cách nào khác. Tuy nhiên, có quyền và có khả năng thực hiện quyền là hai việc hoàn toàn khác nhau. Để có thể thực hiện được quyền này thì cá nhân phải đáp ứng một số điều kiện nhất định do pháp luật quy định. Điều 5 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác quy định rõ người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mới có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống, sau khi chết và hiến xác. Bởi vì quyết định hiến bộ phận cơ thể là một quyết định quan trọng có ảnh hưởng lớn đối với bản thân người hiến cũng như đối với xã hội, nên pháp luật đòi hỏi người hiến phải là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, nhằm đảm bảo tuyệt đối nguyên tắc tự nguyện của việc hiến bộ phận cơ thể. Quan hệ hiến bộ phận cơ thể là quan hệ nhân thân, nên phải do cá nhân tự mình tham gia xác lập và thực hiện, không thể thông qua người đại diện. Do đó, người đại diện cho người chưa thành niên, người bị mất năng lực hành vi dân sự cũng không được thay mặt người được đại diện quyết định việc hiến bộ phận cơ thể. Thậm chí Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác còn nghiêm cấm việc lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống dưới 18 tuổi.

    Một vấn đề đặt ra là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có được thực hiện quyền hiến bộ phận cơ thể hay không? Theo khoản 2 Điều 23 Bộ luật Dân sự 2005, “giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày”. Như vậy người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chỉ bị hạn chế tham gia các quan hệ pháp luật về tài sản, nhằm bảo vệ lợi ích về tài sản của bản thân người đó cũng như lợi ích của những người đã giao dịch với người đó. Còn các quan hệ nhân thân của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn phải do người đó tự mình thực hiện.

    4.2. Đối tượng của quyền hiến bộ phận cơ thể

    Đối tượng của quyền hiến bộ phận cơ thể là “bộ phận cơ thể” người. Trong thực tế đời sống, khi nhắc đến bộ phận chúng ta thường hình dung đó là phần cấu tạo nên một chỉnh thể nào đó. Có thể hiểu bộ phận cơ thể người là phần cấu tạo nên chỉnh thể con người về mặt sinh học. Dưới góc độ sinh học cơ bản, tất cả những gì thuộc về cơ thể con người, cấu tạo nên cơ thể con người được gọi chung trong một khái niệm thống nhất “bộ phận cơ thể người” (như: răng, tóc, máu, tay, chân, xương…).

    Dưới góc độ y học, khái niệm “bộ phận cơ thể người” có thể được hiểu ở hai cấp độ. Hiểu theo cấp độ rộng thì nó hẹp hơn so với cách hiểu dưới góc độ sinh học – không bao gồm răng, tóc. Còn hiểu theo cấp độ hẹp, chỉ đặt trong giới hạn của kỹ thuật cấy, ghép điều trị cứu người thì “bộ phận cơ thể người”còn không bao hàm cả noãn/trứng, tinh trùng, phôi (nó được xếp nằm trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản). Đặt khái niệm “bộ phận cơ thể người” ở Điều 33 trong tương quan với Điều 35 – “Nghiêm cấm việc nhận, sử dụng bộ phận cơ thể của người khác vì mục đích thương mại” – chúng ta sẽ thấy “bộ phận cơ thể người” loại trừ cả máu (máu thực tế vẫn được bán như một thứ hàng hoá từ người cho máu chuyên nghiệp). Trên thực tế, người ta thường hiểu về “bộ phận cơ thể người” theo chính cấp độ hẹp này, có nghĩa là bộ phận cơ thể người chỉ bao gồm chủ yếu các loại mô (nhóm tế bào thường) và tạng người. Trong Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác, thuật ngữ “bộ phận cơ thể người” được giải thích như sau: “Bộ phận cơ thể người là một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định”, trong đó “Mô là tập hợp các tế bào cùng một loại hay nhiều loại khác nhau để thực hiện các chức năng nhất định của cơ thể người”. Mặt khác, tại Khoản 2 Điều 1 Luật này ghi nhận: “Việc truyền máu, ghép tủy không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này”.

    Một vấn đề đặt ra nữa là bộ phận cơ thể người có bao gồm những bộ phận bị loại bỏ khỏi cơ thể của một người thông qua giải phẫu để điều trị bệnh cho chính người có bộ phận bị loại bỏ hay không? Có ý kiến cho rằng “những bộ phận cơ thể người do bị nhiễm bệnh mà không còn thực hiện được chức năng trao đổi chất thông thường và đã bị loại bỏ cũng được coi là bộ phận cơ thể người. Những bộ phận này bị cắt bỏ khỏi cơ thể một người chỉ có giá trị là đối tượng của công việc nghiên cứu khoa học, mà không thể là đối tượng cấy ghép sang cơ thể của một người khác nhằm mục đích chữa bệnh cho người đó. Những bộ phận bị loại bỏ khỏi cơ thể sống của cá nhân, khi hiến cho người khác phải được sự đồng ý của chính người có bộ phận tuy đã bị loại bỏ đó”[4]. Theo chúng tôi, những bộ phận cơ thể người đã bị cắt bỏ do nhiễm bệnh (các chi bị hoại tử của một người bị cắt bỏ, quả thận của một người bị nhiễm bệnh không còn khả năng bài tiết) thì không còn được coi là bộ phận cơ thể người, mà lúc ấy đã trở thành “bệnh phẩm”, trở thành “chất thải y tế”, cơ sở y tế có quyền xử lý mà không cần sự đồng ý của người có bộ phận đã bị cắt bỏ. Bởi vì theo đúng định nghĩa trong Luật, “bộ phận cơ thể người là một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định”. Chỉ có thể được coi là bộ phận cơ thể người và là đối tượng của quyền hiến bộ phận cơ thể nếu bộ phận đó có khả năng thực hiện được chức năng sinh lý bình thường vốn có của nó.

    5. Thực hiện quyền hiến bộ phận cơ thể tại Việt Nam

    5.1. Thủ tục đăng ký hiến bộ phận cơ thể ở người sống

    Theo quy định tại Điều 12 của Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác thì tất cả mọi cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ đều có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình.

    Để đăng ký hiến bộ phận cơ thể, người có ý nguyện hiến bộ phận cơ thể hỉ cần bày tỏ nguyện vọng muốn hiến mô, bộ phận cơ thể của mình với bất kỳ cơ sở y tế nào gần nhất để cơ sở y tế đó thông báo cho các đơn vị có liên quan tiến hành hoàn tất các thủ tục đăng ký hiến cho người hiến chứ không cần thiết phải tới tận cơ sở y tế có chức năng lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người để đăng ký hiến bộ phận cơ thể.

    Khi nhận được thông tin của người có nguyện vọng hiến bộ phận cơ thể, cơ sở y tế đó có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người biết và Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người có trách nhiệm thông báo cho cơ sở y tế có chức năng lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và cơ sở y tế đó có trách nhiệm tới gặp người đăng ký hiến để tư vấn về các thông tin có liên quan đến hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người và hướng dẫn cho người đăng ký hiến viết đơn đăng ký hiến (theo mẫu đơn đã được Bộ Y tế quy định), ngoài ra, cơ sở y tế đó cũng sẽ tiến hành kiểm tra sức khỏe cho người hiến theo quy định của Bộ Y tế.

    Như vậy, việc đăng ký hiến bộ phận cơ thể ở người sống sẽ hoàn tất và có hiệu lực khi cơ sở y tế có chức năng lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người nhận được đơn đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống của người đăng ký hiến.

    Người đã đăng ký hiến bộ phận cơ thể người muốn thay đổi hoặc hủy bỏ đơn đăng ký hiến bộ phận cơ thể thì người đó phải gửi đơn (theo mẫu đơn đăng ký hoặc hủy bỏ do Bộ Y tế quy định) đề nghị thay đổi hoặc hủy bỏ đến cơ sở y tế đã tiếp nhận đơn đăng ký hiến và việc thay đổi hoặc hủy đó sẽ có hiệu lực ngay lập tức kể từ khi cơ sở y tế nhận được đơn thay đổi hoặc hủy bỏ đơn đăng ký hiến bộ phận cơ thể.

    5.2. Quyền lợi của người đã hiến bộ phận cơ thể

    Người đã hiến bộ phận cơ thể người cho người khác được hưởng các quyền lợi sau đây:

    - Được chăm sóc, phục hồi sức khoẻ miễn phí ngay sau khi thực hiện việc hiến bộ phận cơ thể người tại cơ sở y tế và được khám sức khỏe định kỳ miễn phí;

    - Được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí;

    - Được ưu tiên ghép mô, bộ phận cơ thể người khi có chỉ định ghép của cơ sở y tế;

    - Được tặng Kỷ niệm chương vì sức khỏe nhân dân theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

    Như vậy, theo quy định, bên cạnh việc được chăm sóc, phục hồi sức khoẻ miễn phí ngay sau khi thực hiện việc hiến bộ phận cơ thể người, người đã hiến bộ phận cơ thể người còn được cơ sở y tế tổ chức khám sức khỏe định kỳ miễn phí tại một thời điểm nhất định tại cơ sở y tế đó.

    Nếu so sánh với một số nước trên thế giới như Singapore, Pháp, Nhật Bản, Mỹ…, thì việc quy định các quyền lợi như trên đối với người đã hiến mô, bộ phận cơ thể người là rất lớn, thể hiện tính chất nhân đạo và đặc thù của đất nước, trong khi đó, với các nước trên, người đã hiến mô, bộ phận cơ thể người luôn luôn trên tinh thần tự nguyện và không có bất kỳ một lợi ích vật chất nào khác.

    5.3. Hiến bộ phận cơ thể người có liên quan đến người nước ngoài

    Theo quy định tại Điều 34 của Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác, người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được ghép bộ phận cơ thể của người Việt Nam tại Việt Nam trong trường hợp có cùng dòng máu về trực hệ hoặc có họ trong phạm vi ba đời với người hiến hoặc trong trường hợp người hiến đã có đơn tự nguyện hiến mà không nêu đích danh người được ghép

    Người Việt Nam chỉ được ra nước ngoài để hiến bộ phận cơ thể người trong trường hợp có cùng dòng máu về trực hệ hoặc có họ trong phạm vi ba đời với người được ghép.

    Quy định trên nhằm bảo đảm cho việc quản lý chặt chẽ, tránh tình trạng mua, bán mô, bộ phận cơ thể người giữa người hiến và người ghép, đặc biệt là người nước ngoài hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài tới Việt Nam hoặc về nước để tìm người hiến vì có thể bảo đảm về mặt giá thành và dễ dàng tìm kiến. Hơn nữa, đây cũng là quy định chặt chẽ, bảo đảm không để trường hợp người Việt Nam ra nước ngoài bán mô, bộ phận cơ thể của mình để ghép cho người khác ở nước ngoài. Quy định này thể hiện rõ nguyên tắc “phi thương mại” trong pháp luật Việt Nam khi ghi nhận quyền hiến bộ phận cơ thể.

     

    !
     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn huangads33c vì bài viết hữu ích
    khatvongttk (26/03/2011) thebaodhl (28/11/2011)
  • #90821   26/03/2011

    Lucabarazi
    Lucabarazi

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2011
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Cho tôi hỏi, nếu như tôi làm giấy hiến bộ phận cơ thể sau khi chết, thì nếu sau này, cha mẹ tôi có bị bệnh mà cần phải thay 1 bộ phận (tim hoặc là thận) nào đó, có được ưu tiên hay không?
    Hiện tôi còn rất trẻ, chỉ mới 20t, từ nhỏ tới lớn cũng không bị các bệnh liên quan tới các bộ phận nội tạng, chỉ có điều hơi ốm (do tạng người từ bé)
    Được biết, những người hiến máu được người ta phát 1 tấm giấy chứng nhận là đã hiến máu, nếu sau này người trong gia đình cần đến máu thì chỉ cần có giấy này thì sẽ được ưu tiên và tiền mua máu cũng rẻ hơn. Không biết điều này đúng ko ? nếu đúng thì những người hiến tặng bộ phận có giống như vậy không?
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Lucabarazi vì bài viết hữu ích
    TRINHVIETTHUAT (18/08/2012)
  • #212578   09/09/2012

    bechi1403
    bechi1403

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:09/09/2012
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    cho tôi hỏi : người bị nhiễm HIV muốn được hiến xác sau khi chết có được hay không ?
     

     
    Báo quản trị |  
  • #228811   23/11/2012

    nvt
    nvt

    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:25/07/2011
    Tổng số bài viết (0)
    Số điểm: 812
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    bechi1403 viết:

    cho tôi hỏi : người bị nhiễm HIV muốn được hiến xác sau khi chết có được hay không ?
     

    Người muốn hiến xác phải đáp ứng những điều kiện nhất định, trong đó có điều kiện về sức khỏe.

    Theo LUẬT HIẾN, LẤY, GHÉP MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI VÀ HIẾN, LẤY XÁC CỦA QUỐC HỘI KHÓA XI, KỲ HỌP THỨ 10SỐ 75/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 11 NĂM 2006 thì người nhiễm HIV vẫn có quyền này.

     

     
    Báo quản trị |  
  • #288095   25/09/2013

    Tôi muốn hiến xác thì thủ tục thế nào? tôi gặp ai? ở đâu? để làm thủ tục đăng ký. 

     
    Báo quản trị |  
  • #292206   18/10/2013

    TRUTH
    TRUTH
    Top 25
    Male
    Lớp 10

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:03/05/2013
    Tổng số bài viết (2074)
    Số điểm: 13327
    Cảm ơn: 365
    Được cảm ơn 500 lần


    Bạn thực hiện như thủ tục tại bài viết ở trên đã nói:

    Thủ tục hiến xác, bộ phận trên cơ thể sống được quy định theo Luật số75/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 về Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác. Đồng thời thực hiện theo Nghị định số 56/2008/NĐ-CP ngày  29/04/2008 quy định về tổ chức, hoạt động của ngân hàng mô và trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người; Quyết định số 06/2008/QĐ-BYT ngày 14/2/2008 của Bộ Y tế … 
     Cụ thể theo Luật có một số quy định sau: 
    Điều 12. Thủ tục đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống
    1. Người có đủ điều kiện quy định tại Điều 5 của Luật này có quyền bày tỏ nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể của mình với cơ sở y tế.
    2. Khi nhận được thông tin của người có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể người, cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người.
    3. Khi nhận được thông báo về trường hợp hiến mô, bộ phận cơ thể người, Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người có trách nhiệm thông báo cho cơ sở y tế quy định tại Điều 16 của Luật này để tiến hành các thủ tục đăng ký cho người hiến.
    4. Khi nhận được thông báo của Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, cơ sở y tế quy định tại Điều 16 của Luật này có trách nhiệm sau đây:
    a) Trực tiếp gặp người hiến để tư vấn về các thông tin có liên quan đến hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người;
    b) Hướng dẫn việc đăng ký hiến theo mẫu đơn; thực hiện việc kiểm tra sức khỏe cho người hiến;
    c) Báo cáo danh sách người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống cho Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người.
    5. Việc đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống có hiệu lực kể từ khi cơ sở y tế nhận đơn đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống.
    6. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định mẫu đơn đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống; việc tư vấn, kiểm tra sức khỏe cho người hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống.
    Điều 19. Thủ tục đăng ký hiến xác
    1. Người có đủ điều kiện quy định tại Điều 5 của Luật này có quyền bày tỏ nguyện vọng hiến xác với cơ sở y tế.
    2. Khi nhận được thông tin của người có nguyện vọng hiến xác, cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo cho cơ sở tiếp nhận và bảo quản xác của người hiến quy định tại Điều 23 của Luật này.
    3. Khi nhận được thông báo về trường hợp hiến xác, cơ sở tiếp nhận và bảo quản xác của người hiến có trách nhiệm sau đây:
    a) Trực tiếp gặp người hiến để tư vấn về các thông tin có liên quan về hiến xác;
    b) Hướng dẫn việc đăng ký hiến theo mẫu đơn;
    c) Cấp thẻ đăng ký hiến xác cho người hiến.
    4. Việc đăng ký hiến xác có hiệu lực kể từ khi người đăng ký được cấp thẻ đăng ký hiến.
    5. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định mẫu đơn đăng ký hiến xác; việc tư vấn cho người hiến xác.

     Mẫu đơn, có thể tham khảo Quyết định số 07/2008QĐ-BYT ngày 14/2/2008 của Bộ Y tế về việc ban hành các mẫu đơn tự nguyện hiến, hủy đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống, sau khi chết và hiến xác; các mẫu thẻ đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết và hiến xác.

    Ngoài ra nếu bạn muốn hiến xác cho cơ quan hay bệnh viện nào thì có thể đến thẳng đó để hỏi thủ tục nếu họ có quy định riêng

     
    Báo quản trị |