Thắc mắc về chia tài sản khi ly hôn

Chủ đề   RSS   
  • #7742 03/09/2009
    Đánh giá(0)

    yenoanh18

    Vietnam --> Bình Dương
    Tham gia:24/08/2009
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 65
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Thắc mắc về chia tài sản khi ly hôn

    Chào!

    Ba mẹ em kết hôn với nhau có 2 đứa con gái là chị (1984) đã có gia đình và em (1990). Sau nhiều năm chung sống nhưng ko có hạnh phúc. Ba em ko chăm lo cho gia đình va có quan hệ với người khác. Lúc đầu ba luôn chối nhưng lúc này thì ba nhân là có. Mẹ em đã đưa đơn xin ly hôn ra xã mời 3,4 lần nhưng ba diên cớ có công việc và không ra giải quyết.

    Hiện nay, gia đình em có 1 căn nhà cấp 4 khoảng 61m2, 4 chuồng chăn nuôi và diện tích đất là 1200m2 do ba đứng tên. Mẹ em muốn chuyển đơn ly hôn nhờ tòa án giải quyết. Có tham khảo ý kiên của luật sư nhưng lúc nói là tài sản sẽ được chia đôi cho cả vợ lẫn chồng.

    Một lúc lại nói là đất đứng tên ba thi không được phép chia. Chỉ tùy ba có muốn chia đôi hay không? Mẹ em ko biết pải nghe theo hướng nào nên em mong luật sư cho em câu trả lời.

    Nếu 3 em cương quyết vắng mặt thì đơn ly hôn của mẹ em có được tòa án giải quyết không? Nếu giải quyết thì giải quyết như thế nào?

    Thân mến!
    Oanh.

     

Thảo luận
  • #7743   03/09/2009
    Đánh giá(0)

    AnLuat2006
    Top 50
    Vietnam --> Hồ Chí Minh
    Tham gia:16/04/2008
    Tổng số bài viết (524)
    Số điểm: 2775
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 40 lần
    Lawyer

    Trả lời:

    Qua trình bày của em, trước hết cần xác định tài sản của gia đình em là 1 căn nhà cấp 4 khoảng 61 m2 và 4 chuồng chăn nuôi với diện tích 1200 m2 được tạo lập vào thời điểm nào; có ai tặng cho riêng ba em không hay của cha mẹ em tạo lập.

    Trong trường hợp tài sản nêu trên có được là do người khác tặng riêng cho ba em; hoặc tài sản là do một mình ba em tạo lập và có trước khi ba mẹ em đăng ký kết hôn thì tài sản này thuộc tài sản riêng của ba em, mẹ em có thể được hưởng một phần trong khối tài sản này nếu mẹ em chứng minh được công sức đóng góp của mình trong khối tài sản này.

    Trong trường hợp khối tài sản này là do ba mẹ em cùng nhau tạo lập và có sau khi ba mẹ em đăng ký kết hôn thì tài sản này là tài sản chung của ba mẹ em, nên khi ly hôn các bên thỏa thuận thống nhất chia, nếu không thống nhất chia được thì mẹ em có quyền yêu cầu tòa án chia.

    Mẹ em có thể gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của ba em để yêu cầu đơn phương ly hôn. Tòa án sẽ thụ lý và triệu tập ba mẹ em đến Tòa để tiến hành hòa giải, nếu triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà ba em không chịu lên thì theo quy định tại Khoản 2 Điều 60 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án sẽ giải quyết vắng mặt bị đơn.

    Luật sư : Đinh Thị Quỳnh Như
    Điện thoại : 0909 999 445
    Văn phòng luật sư An Luật
    Địa chỉ : 75 Đường số 3, Phường Tân Kiểng, Quận 7, Tp.HCM
    Điện thoại : 08 62 62 37 58 - 08 62 62 37 68.
    Fax : 08 62 62 37 58

    Luật sư Đinh Thị Quỳnh Như - 0909999445

    Văn Phòng Luật Sư An Luật

    Địa chỉ: 284C Nguyễn Trọng Tuyển, Phường 10, Quận Phú Nhuận.

    www.anluat.vn

    Email: info@anluat.vn

     
    Báo quản trị |  
  • #182037   28/04/2012
    Đánh giá(0)

    Cuonglawyer
    Top 10
    Male
    Vietnam --> Hà Nội
    Tham gia:07/06/2011
    Tổng số bài viết (2248)
    Số điểm: 12990
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 710 lần
    Lawyer

    Chào bạn!
             1. Đối với việc xác định tài sản chung hay tài sản riêng mà bạn hỏi, Luật hôn nhân và gia đình quy định như sau:

    Điều 27. Tài sản chung của vợ chồng

    1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa  thuận là tài sản chung.

    Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa  thuận.

    Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

    2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.

    3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.

    Điều 32. Tài sản riêng của vợ, chồng

    1. Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.

    Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

    2. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.

    Điều 95. Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn

    1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa  thuận; nếu không thỏa  thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

    2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

    a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

    b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

    c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề  nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

    d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

    3. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa  thuận; nếu không thỏa  thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

             Nghị quyết số02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng luật hôn nhân và gia đình quy định:
               "Khoản 2 Điều 27 quy định: "Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ và chồng".
              Thực tiễn cho thấy chỉ có tài sản rất lớn, rất quan trọng đối với đời sống gia đình thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu mới ghi tên của cả vợ chồng (như: nhà ở, quyền sử dụng đất...), song cũng không phải trong mọi trường hợp. Đối với các tài sản khác phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận thường chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng (như: xe môtô, xe ôtô, tàu, thuyền vận tải...). Mặt khác, khoản 1 Điều 32 đã quy định cụ thể về tài sản riêng của vợ chồng. Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng; nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do được thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng quy định tại khoản 1 Điều 32 (ví dụ: được thừa kế riêng một khoản tiền và dùng khoản tiền này mua cho bản thân một chiếc xe môtô mà không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng). Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng thì theo quy định tại khoản 3 Điều 27 tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng.
    ".
            Như vậy, nếu nhà đất đứng tên một mình cha bạn nhưng GCN QSD đất được cấp trong thời kỳ hôn nhân với mẹ bạn thì cha bạn phải có nghĩa vụ chứng minh đó là tài sản riêng theo quy định tại Điều 32 Luật NH&GĐ. Nếu cha bạn không chứng minh được nhà đất đó là tài sản riêng thì mặc nhiên sẽ là tài sản chung và được chia đôi khi ly hôn theo quy định tại Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
           2. Đối với vấn đề ly hôn:
    Nếu tình trạng hôn nhân của cha mẹ bạn đã trầm trọng theo quy định tại Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình mà cha bạn không muốn ly hôn thì mẹ bạn vẫn có thể yêu cầu tòa án giải quyết cho đơn phương ly hôn. Mẹ bạn cần nộp đơn xin ly hôn tới Tòa án nơi cha bạn cư trú để được giải quyết.

    Luật sư: ĐẶNG VĂN CƯỜNG - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội

    - Điện thoại: 0977.999.896 hoặc 046.29.29.386 - Gmail: Cuongluatsuchinhdai@gmail.com

    A. CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ: Tranh tụng + Tư vấn + Đại diện ngoài tố tụng + Soạn thảo văn bản. Cụ thể như sau:

    1. Luật sư bào chữa, tranh tụng trong các vụ án: Hình sự, Dân sự, Lao động, Hành chính, Kinh doanh, thương mại;

    2. Luật sư thay mặt khách hàng: làm người đại diện theo ủy quyền để tham gia tố tụng và Đại diện ngoài tố tụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến các lĩnh vực pháp lý; Thương thuyết, Đàm phán hợp đồng; Thu hồi các khoản nợ khó đòi...

    3. Luật sư tư vấn pháp luật: Trực tiếp, bằng văn bản hoặc Email cho các tố chức, cá nhân đối với mọi lĩnh vực.

    4. Luật sư thực hiện thủ tục hành chính trọn gói: Đăng ký kinh doanh; Xin cấp GCN QSD đất lần đầu, Khai nhận di sản thừa kế, Đăng ký sang tên khi mua bán, chuyển nhượng BĐS, Chuyển mục đích sử dụng đất...

    5. Luật sư soạn thảo: Hợp đồng, Di chúc, Đơn thư và các văn bản pháp lý khác theo yêu cầu.

    * TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ cho mọi đối tượng (Liên hệ ngoài giờ hành chính):

    1. Hình thức tư vấn: Điện thoại: 0977.999.896 hoặc 046.29.29.386 và Gmail: Cuongluatsuchinhdai@gmail.com

    2. Thời gian tư vấn: Từ 19h-21h hàng ngày và ngày thứ 7 + Chủ nhật

    B. BÀO CHỮA MIỄN PHÍ CHO: Người chưa thành niên; Người nghèo, Thân nhân liệt sỹ và Người có công với cách mạng.

    Luật sư Cường đang cần tuyển dụng: Luật sư, chuyên viên pháp lý và Cộng tác viên làm việc tại Hà Nội

     
    Báo quản trị |