Phân cấp bậc thành viên mới từ tháng 6/2014
  • Trang nhất
  • Luật Sư Tư Vấn
  • Cùng Thảo Luận
  • Tìm Luật Sư
  • Thành Viên
  • Trang Của Tôi

Tập hợp những câu hỏi liên quan đến Đất đai, nhà cửa

Chủ đề   RSS   
  • #269628 17/06/2013

    danusa
    Top 25
    Female
    Lớp 12

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (1855)
    Số điểm: 19279
    Cảm ơn: 627
    Được cảm ơn 749 lần


    Tập hợp những câu hỏi liên quan đến Đất đai, nhà cửa

    Tôi có 1 trường hợp nhờ luật sư tư vấn giúp thế nào cho chặt chẽ và hợp pháp. 

    Ông bà  tôi có 9 người con tất cả: 3 trai, 6 gái. Ông tôi đã mất cách đây nhiều năm, nhưng không để lại di chúc, bà tôi năm nay cũng nhiều tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn, muốn nhờ tôi soạn giúp 1 bản di chúc để đề phòng bất trắc. 
    Ông bà có 1 mảnh đất ( tài sản chung), hiện có 4 người con sống trên mảnh đất này ( chia làm 4 ngôi nhà biệt lập, 4 số nhà khác nhau), những người con còn lại ở xa, và đều đồng ý là để mảnh đất này cho 4 người hiện đang ở. 

    Vậy sẽ phải soạn di chúc như thế nào? Cần những ai kí vào? có cần người làm chứng không?( ai có thể làm chứng), có cần xác nhận gì của pháp luật như công chứng ...( vì bà không viết được nên nhờ tôi đánh máy) như vậy thì liệu có hợp pháp không?
     Và sau khi có bản di chúc như thế thì việc làm sổ đỏ như thế nào để thuận lợi cho việc mỗi gia đình người con có thể cho thuê hoặc bán nhà mà không bị liên quan, ảnh hưởng cũng như tránh khả năng có thể xảy ra tranh chấp sau này.  
    Nhân tiện Tết này, nhưg người con ở xa về tụ họp gia đình nên bà muốn lập di chúc. 
    Mong sớm nhận được hồi âm của các luật sư.
    Tôi chân thành cám ơn! 

    (Đặng Thị Kim Oanh)

     

    Chào bạn! luật sư Nguyễn Đức Long tư vấn cho bạn như sau:
     
    Bạn không nói rõ thửa đất đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa, hiện giờ ai đang đứng tên. Theo thông tin bạn cung cấp, Luật sư tư vấn như sau:
     
    Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người làm chứng cho việc lập di chúc không phải là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc (Điều 654, 656 Bộ luật dân sự năm 2005).
     
    Bạn có thể ghi nhận lại nội dung di chúc rồi đánh máy thành văn bản cho bà bạn mà không làm mất đi hiệu lực của bản di chúc, việc nhờ người là chứng trong trường hợp này là rất cần thiết vì nó ảnh hưởng đến hiệu lực của bản di chúc, nếu thửa đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì văn phòng công chứng không có quyền xác nhận vào bản di chúc này. Tuy nhiên, để soạn thảo bản di chúc hợp pháp, có hiệu lực pháp luật không hề đơn giản (sai một ly đi một dặm). Để tránh những tranh chấp xảy ra sau này, bạn nên nhờ một luật sư giúp bà bạn.
    Cập nhật bởi danusa ngày 17/06/2013 10:36:23 SA Cập nhật bởi danusa ngày 17/06/2013 10:26:15 SA
     

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #269629   17/06/2013

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Lớp 12

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (1855)
    Số điểm: 19279
    Cảm ơn: 627
    Được cảm ơn 749 lần


    Người VN định cư ở nước ngoài nhận chuyển quyền SDĐ

    Tôi muốn hỏi luật sư một sự việc như sau: NGười việt nam đinh cư ở nước ngoài có được nhận chuyển nhượng QSDĐ hay ko? Tôi có ông chú muốn về việt nam mua đất đẻ sau này về già ông ở, nhưng liên hệ văn phòng tài nguyên thị cơ quan đó trả lời phài là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, được trở về VN có visa miển thị thực từ 3 tháng trở lên mới được nhận thừa kế 1 căn nhà hoặc 1 căn hộ chungc ư, Nhu vậy có đúng ko? Nhờ luật sư tu vấn cho em mây cái quy định để e tìm hiểu them. XIn cám ơn nhiều
     
     (Cao Thị Thúy Phương)
     
    Chào bạn! luật sư Đinh xuân Hồng tư vấn cho bạn như sau:
     
    Theo quy định Điều 126 Luật Nhà ở về Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
     
    "1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam:
    a) Người có quốc tịch Việt Nam;
    b) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.
     
    2. Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam.”
     
    Do đó, trường hợp của chú bạn có quyền sở hữu nhà tại Việt Nam.
     
    Chúc thuận lợi!
     
    Cập nhật bởi danusa ngày 17/06/2013 10:35:53 SA Cập nhật bởi danusa ngày 17/06/2013 10:30:19 SA
     
    Báo quản trị |  
  • #269648   17/06/2013

    BachThanhDC
    BachThanhDC
    Top 10
    Cao học

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:01/12/2009
    Tổng số bài viết (5127)
    Số điểm: 49143
    Cảm ơn: 1796
    Được cảm ơn 3199 lần
    ContentAdministrators
    SMod

    danusa viết:

    Tôi muốn hỏi luật sư một sự việc như sau: NGười việt nam đinh cư ở nước ngoài có được nhận chuyển nhượng QSDĐ hay ko? Tôi có ông chú muốn về việt nam mua đất đẻ sau này về già ông ở, nhưng liên hệ văn phòng tài nguyên thị cơ quan đó trả lời phài là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, được trở về VN có visa miển thị thực từ 3 tháng trở lên mới được nhận thừa kế 1 căn nhà hoặc 1 căn hộ chungc ư, Nhu vậy có đúng ko? Nhờ luật sư tu vấn cho em mây cái quy định để e tìm hiểu them. XIn cám ơn nhiều
     
     (Cao Thị Thúy Phương)
     
    Chào bạn! luật sư Đinh xuân Hồng tư vấn cho bạn như sau:
     
    Theo quy định Điều 126 Luật Nhà ở về Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
     
    "1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam:
    a) Người có quốc tịch Việt Nam;
    b) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.
     
    2. Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam.”
     
    Do đó, trường hợp của chú bạn có quyền sở hữu nhà tại Việt Nam.
     
    Chúc thuận lợi!

    Tôi thấy câu trả lời cho tình huống này là chưa đầy đủ và chưa đúng.

    + Chưa đầy đủ ở chỗ: câu hỏi vừa liên quan đến đất, vừa liên quan đến nhà. Vậy thì trước hết phải căn cứ vào quy định của Luật đất đai trước đã. 

    Câu hỏi đặt ra là: "Người VN định cư ở nước ngoài có được nhận chuyển QSD đất hay không?"

    Khoản 1 Điều 121 Luật đất đai (sửa đổi năm 2009) quy định: 

    Điều 121. Quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam 

    1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng quy định tại Điều 126 của Luật nhà ở có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

    Như vậy, người VN định cư ở nước ngoài chỉ có quyền mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại VN, chứ không có quyền chuyển nhượng QSD đất ở mà không gắn liền với nhà ở. 

    + Chưa đúng ở chỗ: theo nội dung câu hỏi thì ông chú của Cao Thị Thúy Phương muốn mua đất trước để sau này về già mới về ở. Như vậy thì khẳng định: "Trường hợp của chú bạn có quyền sở hữu nhà ở tại VN" là chưa đúng, vì chưa thỏa mãn điều kiện "được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên" theo quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật nhà ở.

    Hãy làm tất cả những gì trong phạm vi cho phép và khả năng có thể!

     
    Báo quản trị |  
  • #269631   17/06/2013

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Lớp 12

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (1855)
    Số điểm: 19279
    Cảm ơn: 627
    Được cảm ơn 749 lần


    Tư vấn về quyền bán nhà

    Trước khi ông bà ngoại em còn sống có mua 1 căn nhà (lúc đó mẹ em và 1 số chú dì đang ở trên Campuchia làm ăn nên không có đóng góp tiền xây dựng , giấy chủ quyền là của ông ngoại em).
     
    Ông bà ngoại em vừa mất , không có lập di chúc kế thừa cho ai cả . Nhà em có tổng cộng khoảng 11 12 cậu dì . Trong lúc ông bà ngoại bị bệnh , các người con đều thay nhau chăm lo cho ông bà ngoại , trong đó có 1 người dì và chú dành nhiều thời gian chăm sóc cha ông bà ngoại hơn vì có thời gian . Những người còn lại vì vướng bận công việc nên chỉ chăm sóc được khi rảnh tay.
     
    Bây giờ , khi ông bà ngoại đã mất thì mọi người trong gia đình đều nói nhà này là nhà của họ , còn mẹ em thì không có quyền gì trong đó cả , mặc dù mẹ em là con ruột của ông bà ngoại . Hiện tại thì người đứng đầu sổ hộ khẩu trong gia đình là người chú , người chăm sóc ngoại em nhiều nhất.
     
    Em xin hỏi luật sư , trong trường hợp này giải quyết như thế nào ạ ?
        + Mẹ em có quyền quyết định bán nhà hay không trong trường hợp những người còn lại đều muốn bán nhà để có tiền xài ? 
        +  Việc người đứng đầu sổ hộ khẩu có quyền cho em ra khỏi sổ hộ khẩu hay không ( Có lần em bị hăm dọa sẽ cho tách khẩu vì em có cự cãi với họ lúc họ chửi bới , đổ thừa cho mẹ em . Em vai vế cháu ngoại ) . 
        + Việc họ thường xuyên đổ thừa , sỉ nhục mẹ em thì hướng giải quyết như thế nào ạ ? Bản thân em thì chỉ muốn mẹ em không bị ai nói gì vô cả . Em chỉ muốn mẹ em có thể tập trung vô làm ăn thôi.
    (Chị T.Tuấn)
     
    Luật sư Nguyễn Thạch Thảo tư vấn cho bạn như sau:
     
    Theo qui định của pháp luật thì trường hợp của gia đình bạn là thuộc diện thừa kế theo pháp luật được qui định như sau:
     
    Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật
    1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:
    a) Không có di chúc;
    b) Di chúc không hợp pháp;
    c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;
    d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.
    2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
    a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
    b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
    c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.
     
    Do vậy, để đảm bảo được quyền lợi của mình, mẹ bạn cần phải khởi kiện ra tòa để nhờ pháp luật can thiệp. Khi đó, mẹ bạn sẽ được tòa án xác định được hưởng bằng 1 phần ngang với những anh em còn lại. Nếu mẹ bạn muốn bán mà những người kia không đồng ý thì mẹ bạn được quyền đề nghị họ thối tiền lại tương ứng vớ phần mẹ bạn được hưởng hoặc ngược lại. Việc bạn dự định mời công an xuống giải quyết chỉ có tác dụng khi xảy ra mất trật tự công cộng nhiều lần hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trong đến nhiều người xung quanh, khi đó công an mới có cơ sở giải quyết. Cách tốt nhất bây giờ là mẹ bạn nên khởi kiện ra tòa yêu cầu phân chia di sản thừa kế kẻo hết thời hiện khởi kiện sẽ bất lợi cho mẹ 
     
    Thân chào.
     
    Cập nhật bởi danusa ngày 17/06/2013 10:35:00 SA
     
    Báo quản trị |  
  • #269633   17/06/2013

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Lớp 12

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (1855)
    Số điểm: 19279
    Cảm ơn: 627
    Được cảm ơn 749 lần


    Hiện nay gia đình em đang tranh chấp về việc sổ đỏ.
     
    Ngoại em có tất cả là 3 người con ..2 người con trai lớn (con riêng) và 1 người con gái út (là mẹ của em hiện nay)..nhưng lại cùng mẹ khác cha ...
    năm 1996:cậu em là người con thứ 2(con riêng của bà ngoại em) cùng với gia đình của cậu có đến xin nhà bà ngoại cho ở nhờ..cậu em có  hứa với bà ngoại và mẹ em là sau 2 năm sẽ dọn đi và cậu cũng đã có viết 1 tờ giấy cam kết ..nhưng mãi kéo đến 17 năm.Và trong khoảng thời gian đó(năm 2004) bà ngoại mất ..nhưng trước khi mất bà ngoại em mất có viết 1 tờ giấy di chúc để lại cho cậu em nhưng đến năm 2006 thì cậu mất...mẹ em lại không hề hay biết về chuyện tờ giấy di chúc đó  mãi cho đến năm 2013.
    Khi có lệnh của nhà nước về việc làm thủ tục sổ đỏ thì mợ em(là vợ của cậu)lại không đồng ý về việc làm sổ đỏ..vì gia đình em đang tranh chấp về nhà cửa.Mợ em có nói rằng:"muốn làm sổ đỏ thì phải làm 2 cái"(1 là cho mợ 1 là cho mẹ của em)..vậy theo luật sư mẹ em nên giải quyết như thế nào ..và cho em hỏi thời gian hiệu lực của giấy di chuc là bao nhiêu năm mới hết hạn
     
    Hùynh Lê My
     
    Xin chào bạn, luật sư Đặng Văn Cường (thuvienphapluat.vn) tư vấn cho bạn như sau
             
    1. Pháp luật không quy định thời gian có hiệu lực của di chúc mà chỉ quy định thời hiệu khởi kiện tranh chấp về thừa kế (là 10 năm kể từ ngày người có di sản chết). Nếu hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế nhưng vụ việc đủ điều kiện để giải quyết chia tài sản chung theo quy định tại Nghị quyết số02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao thì di sản cũng vẫn được định đoạt theo nội dung di chúc đó (không phụ thuộc vào thời hiệu khởi kiện). Nếu hết thời hiệu khởi kiện, vụ việc cũng không đủ điều kiện để chia tài sản chung theo quy định tại Nghị quyết số02/2004/NQ-HĐTP nêu trên thì di chúc không còn giá trị.
           
     2. Vụ việc của gia đình bạn trước tiên phải xem lại giá trị pháp lý của di chúc. Nếu di chúc hợp pháp theo quy định tại Điều 652 BLDS thì mợ bạn và các em bạn có thể khởi kiện để yêu cầu chia thừa kế theo di chúc đó. Nếu di chúc không có hiệu lực pháp luật, di sản được chia thừa kế theo pháp luật thì mợ bạn không được quyền thừa kế mà chỉ có các em con của cậu bạn được thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 677 BLDS. Nếu đến năm 2014, hết thời hiệu khởi kiện tranh chấp về thừa kế đối với di sản của bà bạn mà mợ bạn và các em bạn chưa khởi kiện thì sau này dù có tranh chấp về thừa kế thì Tòa án cũng không giải quyết. Ai đang quản lý, sử dụng được tiếp tục sử dụng theo pháp luật.
     
     
    Báo quản trị |  
  • #269635   17/06/2013

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Lớp 12

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (1855)
    Số điểm: 19279
    Cảm ơn: 627
    Được cảm ơn 749 lần


    Đền bù giải phóng mặt bằng PMU1

    Luật sư  làm ơn cho tôi hỏi một số vấn đề mà các hộ dân sinh sông ven quốc lộ 1A đang vướng mắc: 
    _   Hiện nay nhà nước đang tiến hành mở rộng tuyến đường quốc lộ 1A đi qua  xã diễn an, huyện Diễn Châu - nghệ An, nhưng qua các cuộc họp về công tác đền bù giải phóng mặt bằng (GPMB)  thì chúng tôi được thông báo là sẽ không được đền bù 8,5m thuộc hành lang giao thông. Hiện tại đất chúng tôi đang ở là đất được mua từ năm 1980, khi mua đất chính quyền xã đã cắt 7m hành lang giao thông bán cho các hộ dân ven đường và hàng năm chúng tôi vẫn phải nộp thuế đất gồm cả 7m hành lang giao thông này. Nay nhà nước lấy thêm 1,5m nữa là 8,5m và thông báo là sẽ không đền bù. Như vậy các luật sư cho chúng tôi  hỏi bây giờ làm thế nào để đòi lại quyền lợi chính đáng cho mình, bởi vì khi mua đất chúng tôi đã vay ngân hàng để mua và phải đến hàng chục năm mới trả xong tiền vay ngân hàng để mua đất và hàng năm vẫn phải đóng thuế đất, nay không được đền bù thì thiệt thòi quá.
    _ Vấn đề thứ hai là : Đất nhà ở của tôi trước đây là 450m2 đã được cấp bìa xanh (  đất nằm ven quốc lộ 1A ), khoảng năm 1995 chính quyền xã thu lại bìa xanh để đổi sang bìa đỏ và khi bàn giao bìa đỏ thì trong bìa của tôi chỉ được ghi là 200m2, đất. Như vậy là tôi bị xã thu hồi 150m mà không rõ lý do, không đề bù, hỗ trợ. Nay xin được hỏi các luật sư vấn đề này bọn tôi phải giải quyết như thế nào để đòi lại quyền lợi của mình ạ.
    _ Xin hỏi các luật sư  thêm 1 câu là : Hiện tại giá đất đền bù GPMB ven quốc lộ 1A năm 2013 được tính theo giá thị trường hay là chịu khung áp giá của Tỉnh. 
     
    Thanh Khương
     
    Xin chào bạn, luật sư Nhâm Thị Lan tư vấn cho bạn như sau
     
    1/: về phần đất nhà nước thu hồi có hai loại đất được hỗ trợ và bồi thường theo quy định của luật đất đai đó là đất Nông nghiệp và đất thổ cư. Loại đất mà bạn đang thắc mắc có diện tích là 8.5m, có đóng thuế hàng năm, bạn không nói rõ cho tôi biết là loại đất gì? nhưng việc bạn có chứng minh đóng thuế hàng năm ( dù đất đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa). Thì nguyên tắc nhà nước thu hồi phải đền bù thỏa đáng cho gia đình bạn và các hộ dân khác. Tuy nhiên, việc nhà thước thu hồi đất của gia đình bạn cũng như các hộ dân là để phục vụ các công trình phúc lợi cho lợi ích quốc gia ( nên đây gọi là dự án nhóm A của chính phủ). Chính vì vậy, khi bồi thường nhà nước sẽ áp dụng giá bồi thường do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.
     
    2/. Phần diện tích đất nhà bạn có 450m đất, trong khi đó Ủy ban huyện cấp GCNQSDD cho ban có 200m, còn lại 150m đất đó, khi nhà nước thu hồi, phải có 1 quy trình theo quy định của pháp luật, như (Quyết định thu hồi đất, thông báo, phương án giải phóng mặt bằng.)    .....Vì vậy đất của bạn đã bị mất từ năm 1995. Trong khi bạn mất đất bạn không làm thủ tục khiếu nại đến Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết. bây giờ thì đã hết thời hiệu khiếu nại theo quy định của pháp luật. việc này, có thể tôi cần phải biết thêm thông tin vụ việc. nếu như đất nhà bạn, mà cơ quan nhà nước đã sử dụng, nhưng chưa có trình tự thu hồi, thì việc này là nhà nước đang chiếm giữ đất của bạn 1 cách bất hợp pháp. Nên bây giờ bạn cũng có thể khởi kiện ra tòa án có thẩm quyền giải quyết, còn nhà nước thu hồi theo trình tự thủ tục như trên tôi đã trình bày, thì thời hiệu bạn đã hết.
     
    Cập nhật bởi danusa ngày 17/06/2013 10:51:31 SA
     
    Báo quản trị |  
  • #269746   17/06/2013

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Lớp 12

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (1855)
    Số điểm: 19279
    Cảm ơn: 627
    Được cảm ơn 749 lần


    Thủ tục đính chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

    Kính chào các Luật sư!
    em đang làm thủ tục đính chính GCN quyền sử dụng đất, mọi thứ giấy tờ đã chuẩn xong hết, do công việc bận em ủy quyền cho người bạn đi làm ( GCN quyền sử dụng đất ghi tên hai vợ chồng em, chồng em đi công tác xa trong Nam) việc em ủy quyền hợp pháp nhưng chỉ có mình em ký vào ủy quyền, nay cán bộ giải quyết thủ tục hành chính yêu cầu cả hai vợ chồng  ký ủy quyền cho bạn em . các Luật sư cho em hỏi
    1.Việc ủy quyền đi đính chính GCN có cần cả hai vợ chồng không ký không ? nếu có thì căn cứ nào?
    2. Việc GCN quyền sử dụng đất của vợ chồng em sai là do cơ quan chức năng ( sai về số thửa) nay đính chính trên  GCN của em hay đính chính trên hồ sơ lưu tại phòng tài nguyên môi trường? và kết quả đính chính là gì
    Xin chân thành cảm ơn các Luật sư!
     
    Lê Hoài thu
     
    Luật sư Đặng Văn Cường, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội trả lời câu hỏi của bạn như sau:
     
             1. Theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định số88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ Về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì khi phát hiện nội dung ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sai sót thì Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đính chính đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp; Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đính chính đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp. 
              Như vậy, cơ quan nhà nước có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bạn nếu có phát hiện sai sót ghi trong Giấy chứng nhận.
              2. Không có quy định pháp luật nào bắt buộc phải tất cả các người có tên trong Giấy chứng nhận phải yêu c  u đính chính GCN quyền sử dụng đất thì cơ quan có thẩm quyền mới đính chính Giấy chứng nhận (chỉ cần phát hiện có sai sót là phải đính chính). Do vậy, chỉ cần một mình bạn yêu cầu đính chính giấy chứng nhận đã cấp do có sai sót thì cơ quan có thẩm quyền phải có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp cho gia đình bạn. Việc cán bộ giải quyết vụ việc bắt cả hai vợ chồng bạn phải ủy quyền thực hiện thủ tục là máy móc, không đúng quy định pháp luật. Bạn có thể khiếu nại đến thủ trưởng cơ quan đó để được giải quyết.
              3. Nguyên tắc đính chính Giấy chứng nhận là đính chính nội dung ghi trong Giấy chứng nhận cho khớp với hồ sơ địa chính. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm kiểm tra, ghi nội dung đính chính trên GCN theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 12 của Thông tư số17/2009/TT-BTNMT (3) để cơ quan tài nguyên và môi trường xác nhận. 
     
    Cập nhật bởi danusa ngày 17/06/2013 05:12:57 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #269747   17/06/2013

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Lớp 12

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (1855)
    Số điểm: 19279
    Cảm ơn: 627
    Được cảm ơn 749 lần


    Có được đứng tên trên đất trồng cây lâu năm

    Kính chào các luật sư!

    Tôi đang ở TP.HCM, năm 2010 tôi có mua 17,4ha đất trồng cây lâu năm( đất trồng cây cao su) ở huyện Hớn quản, Tỉnh Bình Phước đứng tên chủ sở hữu của tôi. Tôi dự định mua thêm 30 ha đất trồng cây lâu năm(đất trồng cây cao su) cũng ở huyện hớn Quản, Bình Phước. vây 30 ha đất trồng cây lâu năm này tôi mà tôi dự định mua, tôi có được quyền đứng tên hay không? 
    Chân thành cảm ơn!

    TRẦN HOÀNG VŨ

     
    Luật sư Đặng Văn Cường, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội trả lời câu hỏi của bạn như sau:
     
             Khoản 2, Điều 2, Nghị quyết số1126/2007/NQ-UBTVQH11 ngày 26/7/2007 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích nông nghiệp có quy định như sau:
            "Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thuỷ sản và đất làm muối của mỗi hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp được quy định như sau: 
     Đất trồng cây lâu năm:
     
    a) Không quá hai mươi (20) ha đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng;
     
    b) Không quá năm mươi (50) ha đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.".
            Do vậy, nếu xã, phường, thị trấn nơi bạn nhận chuyển nhượng là thuộc trung du, miền núi thì bạn mới có thể nhận chuyển nhượng thêm 30ha nữa (tổng diện tích không quá 50ha). Còn nếu địa bàn đó thuộc xã, phường, thị trấn ở đồng bằng thì bạn không được nhận chuyển nhượng thêm 30ha nữa (hạn mức nhận chuyển nhượng không quá 20ha).
            Bạn có thể tìm hiểu thêm thông tin tại Nghị quyết số1126/2007/NQ-UBTVQH11ngày 26/7/2007 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích nông nghiệp để biết thêm chi tiết (Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2007).
    Cập nhật bởi danusa ngày 17/06/2013 05:21:13 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #269755   17/06/2013

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Lớp 12

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (1855)
    Số điểm: 19279
    Cảm ơn: 627
    Được cảm ơn 749 lần


    Cấp mới Giấy CNQSD Đất làm nhà trước 10/1993

    Nhà tôi có mua 1 mảnh đất ruộng của ông chú vào năm 1992, đến thời điểm 4/1993 thì đổ đất làm nhà đến 9/1993 hoàn thành. Sau đó đến năm 1994 đoàn công tác đi xử lý vi phạm xuống để kiểm tra các hộ gia đình đổ đất làm nhà xuống ruộng và đã làm biên bản có ghi: nhà ông A mua đất ruộng của ông B với diện tích 231m2 vào năm 1992 và đổ đất làm nhà lên đó. Biên bản ghi ngày tháng năm 1994, khi tôi làm đơn cấp mới gửi ra xã, xã gửi lên huyện thì bị gửi trả về kèm theo lý do là ko xác định rõ thời điểm và diện tích làm nhà. Nay tôi muốn hỏi tôi làm lại hồ sơ kèm theo phiếu lấy ý kiến khu dân cư (mẫu 01-TT06-BTN&MT) sau đó gửi ra xã để xã gửi lên huyện kèm theo danh sách hộ đủ điều kiện cấp GCNQSD Đất có đc ko? 
     
    Nếu ko được thì nên làm theo cách nào?
     
    Hoàng Phi
     
    Chào bạn! Với thông tin bạn cung cấp Luật sư Lưu Hải Vũ tư vấn bạn như sau:
     
    Theo quy định tại Điều 14 Nghị định88/2009/NĐ-CP quy định như sau:
     
    Điều 14. Hồ sơ và trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp thửa đất không có tài sản gắn liền với đất hoặc có tài sản nhưng không có nhu cầu chứng nhận quyền sở hữu hoặc có tài sản nhưng thuộc quyền sở hữu của chủ khác
     
    1. Người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp một (01) bộ hồ sơ gồm:
     
    a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận;
     
    b) Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai (nếu có);
     
    c) Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật (nếu có).
     
    2. Trường hợp người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã, thị trấn thì Ủy ban nhân dân xã, thị trấn có trách nhiệm thực hiện các công việc sau đây:
     
    a) Kiểm tra, xác nhận vào đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận về tình trạng tranh chấp quyền sử dụng đất; trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì kiểm tra, xác nhận về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đã được xét duyệt.
     
    Trường hợp chưa có bản đồ địa chính thì trước khi thực hiện các công việc tại điểm này, Ủy ban nhân dân xã, thị trấn phải thông báo cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện thực hiện trích đo địa chính thửa đất;
     
    b) Công bố công khai kết quả kiểm tra tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, thị trấn trong thời hạn 15 ngày; xem xét giải quyết các ý kiến phản ánh về nội dung công khai;
     
    c) Gửi hồ sơ đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện nơi có đất để thực hiện các công việc quy định tại các điểm b, c và d khoản 3 Điều này.
     
    3. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện có trách nhiệm thực hiện các nội dung công việc sau:
     
    a) Gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp xã để lấy ý kiến xác nhận và công khai kết quả theo yêu cầu quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều này đối với trường hợp nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện;
     
    b) Kiểm tra hồ sơ, xác minh thực địa trong trường hợp cần thiết; xác nhận đủ điều kiện hay không đủ điều kiện được chứng nhận về quyền sử dụng đất vào đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận;
     
    c) Chuẩn bị hồ sơ kèm theo trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất (đối với nơi chưa có bản đồ địa chính) để Phòng Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp ký Giấy chứng nhận và ký hợp đồng thuê đất đối với trường hợp được Nhà nước cho thuê đất;
     
    d) Trao Giấy chứng nhận cho người được cấp giấy, trường hợp nộp hồ sơ tại xã, thị trấn thì gửi Giấy chứng nhận cho Ủy ban nhân dân xã, thị trấn để trao cho người được cấp giấy.
     
    Căn cứ quy định viện dẫn trên bạn cần hoàn thiện đầy đủ giấy tờ, hồ sơ địa chính, trích lục bản đồ nộp tại UBND xã/phường để xem xét căn cứ có đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bạn hay không?
     
    Cập nhật bởi danusa ngày 17/06/2013 05:48:11 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #280467   10/08/2013

    luatsuvuhien
    luatsuvuhien

    Female
    Mầm

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:09/08/2013
    Tổng số bài viết (32)
    Số điểm: 547
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 20 lần


    Thủ tục sang tên sổ đỏ

    (Dân trí) - Mẹ tôi mất đã 6 năm, bố tôi mất đã 16 tháng. Trước khi mẹ tôi mất thì bố mẹ tôi đã lập di chúc cho tôi được hưởng căn nhà do bố mẹ đứng tên trong sổ đỏ. Vậy tôi muốn sang tên sổ đỏ thì phải làm thủ tục như thể nào?

    Tôi có 10 anh chị em đều có gia đình, chỗ ăn ở ổn định, các anh chị em của tôi đều đồng ý. (Nguyễn Văn Thành, Gia Lâm, Hà Nội).

     

    Ảnh minh họa
    Ảnh minh họa

    Trả lời:

    Vì thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ và cụ thể nên chúng tôi chỉ trả lời bạn 1 số nội dung chính như sau:

    Theo như bạn nói thì Bố mẹ bạn đã mất, trước khi mất có lập di chúc cho bạn căn nhà, và bạn muốn sang tên sổ đỏ căn nhà đó.

    Thứ nhất: Vì bạn không nói rõ hình thức di chúc nên tôi không thể khẳng định di chúc hợp pháp hay không.

    Thứ hai: Bạn chỉ nói về anh chị em của bạn đều đủ khả năng lao động và đã thành niên nhưng bạn không nói rõ bố mẹ của bố và mẹ bạn (tức ông bà nội ngoại) còn sống hay đã mất vì họ là những người được hưởng thừa kế di sản của bố mẹ bạn để lại trong cả 2 trường hợp sau: Trường hợp di chúc hợp pháp thì họ là những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 669 Bộ luật dân sự; Trường hợp di chúc không hợp pháp thì họ là một trong số những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất (thừa kế theo pháp luật) theo điều 676 BLDS; Nếu cả ông bà nội, ngoại của bạn đều đã mất trước bố mẹ bạn thì chỉ có bạn được hưởng di sản của bố mẹ (theo di chúc) hoặc tất cả những người con của bố mẹ bạn được hưởng di sản (nếu di chúc không hợp pháp và chia theo pháp luật.

    Thứ ba: Về thủ tục sang tên sổ đỏ thì trước hết bạn và những người đồng thừa kế (nếu có) phải tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế (dù thừa kế theo di chúc hay pháp luật) tại tổ chức hành nghề công chứng – nếu di chúc đó là hợp pháp và đã được công chứng, chứng thực theo quy định. Sau khi đã làm thủ tục khai nhận thừa kế xong (có văn bản khai nhận thừa kế) thì bạn có thể làm thủ tục sang tên sổ đỏ- xin cấp Giấy chứng nhận tại UBND quận/huyện nơi có địa chỉ căn nhà.
     

    Luật sư Vũ Thị Hiên - 0904 68 03 83

    Đoàn luật sư Tp Hà Nội

    Luật sư: Dân sự - Hình sự - Đất đai, Hôn nhân gia đình

    Chuyên soạn thảo: Hợp đồng đặt cọc, vay tài sản; biên bản thoả thuận

    Làm thủ tục sang tên sổ đỏ, cấp mới, đính chính

    Tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn, khai sinh, nhận cha con có yếu tố nước ngoài

    Visa, giấy phép lao động.

    Email: vuhien@luatdaiviet.vn

    Website:http://luatdaiviet.vn/

     
    Báo quản trị |  
  • #280466   10/08/2013

    luatsuvuhien
    luatsuvuhien

    Female
    Mầm

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:09/08/2013
    Tổng số bài viết (32)
    Số điểm: 547
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 20 lần


    Thủ tục công chứng hợp đồng thuê nhà

    Mình thuê nhà ở của ông nội, ông và mình ở tại địa phương A, nhà ở tại địa phương B, mình nhờ địa phương A chứng thực hợp đồng. Vậy có giá trị pháp lý không? (Văn Công Sơn, email:sonvancong@yahoo.com.vn)

    Trả lời:

    Tại Điều 492 Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) quy định về hình thức hợp đồng thuê nhà ở: “Hợp đồng thuê nhà ở phải được lập thành văn bản, nếu thời hạn thuê từ sáu tháng trở lên thì phải có công chứng hoặc chứng thực và phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

    Vì bạn không nói cụ thể, bạn thuê nhà của ông trong thời gian bao lâu, theo quy định nêu trên thì nếu thời hạn thuê từ sáu tháng trở lên thì phải có công chứng hoặc chứng thực và phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Tại Điều 37 Luật Công chứng năm 2007 quy định: “Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền công chứng các hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở”

    Tại Điều 5 Nghị định số79/2007/NĐ-CP về chứng thực bản sao và chữ ký,có quy định: “1. Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Phòng Tư pháp cấp huyện) có thẩm quyền và trách nhiệm:

    a) Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài;

    b) Chứng thực chữ ký của người dịch trong các giấy tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài; chứng thực chữ ký trong các giầy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài;

    Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện thực hiện chứng thực các việc theo quy định tại khoản 1 Điều này và đóng dấu của Phòng Tư pháp.

    2. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) có thẩm quyền và trách nhiệm:

    a) Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt;

    b) Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt.

    Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chứng thực các việc theo quy định tại khoản 2 Điều này và đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã”.

    Như vậy, theo các quy định nêu trên thì đối với hợp đồng cho thuê nhà ở trên sáu tháng, các bên phải đi công chứng. Thẩm quyền chứng nhận hợp đồng về nhà ở thuộc về công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng tại địa bàn nơi có nhà ở cho thuê.

    Vì bạn không cung cấp đầy đủ địa phương A và B có cùng huyện, tỉnh hay ở hai tỉnh khác nhau, nên chúng tôi giả định như sau: nếu trong cùng một huyện, hoặc cùng tỉnh thì có thể công chứng hợp đồng thuê nhà ở tại phòng công chứng thuộc địa phương A hoặc B, còn nếu A và B là hai tỉnh khác nhau thì chỉ có thể công chứng tại phòng công chứng thuộc địa phương B - nơi có nhà cho thuê . Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ có thẩm quyền chứng thực bản sao hoặc chứng thực chữ ký mà thôi. Do vậy. muốn làm thủ tục thuê nhà ở, bạn phải đến Phòng công chứng nơi có nhà ở cho thuê để làm thủ tục thuê nhà ở.

    Luật sư Vũ Thị Hiên

    Luật sư Vũ Thị Hiên - 0904 68 03 83

    Đoàn luật sư Tp Hà Nội

    Luật sư: Dân sự - Hình sự - Đất đai, Hôn nhân gia đình

    Chuyên soạn thảo: Hợp đồng đặt cọc, vay tài sản; biên bản thoả thuận

    Làm thủ tục sang tên sổ đỏ, cấp mới, đính chính

    Tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn, khai sinh, nhận cha con có yếu tố nước ngoài

    Visa, giấy phép lao động.

    Email: vuhien@luatdaiviet.vn

    Website:http://luatdaiviet.vn/

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn luatsuvuhien vì bài viết hữu ích
    hattv (13/08/2013)
  • #280465   10/08/2013

    luatsuvuhien
    luatsuvuhien

    Female
    Mầm

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:09/08/2013
    Tổng số bài viết (32)
    Số điểm: 547
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 20 lần


    Thủ tục, hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ)

    Xin cho biết, thủ tục cấp GCNQSDĐ (sổ đỏ) được quy định như thế nào? (Hà Sơn Bình, Email: habinh66@gmail.com)
     

    Trả lời:

    Thứ nhất, về hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận:

    - Đối với trường hợp thửa đất không có tài sản gắn liền với đất hoặc có tài sản nhưng không có nhu cầu chứng nhận quyền sở hữu hoặc có tài sản nhưng thuộc quyền sở hữu của chủ khác:

    Tại khoản 1 Điều 14 Nghị định88/2009/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 19 tháng 10 năm 2009 về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận như sau:

    1. Người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp một (01) bộ hồ sơ gồm:

    a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận;

    b) Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai (nếu có);

    c) Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật (nếu có).

    - Đối vớitrường hợp tài sản gắn liền với đất mà chủ sở hữu không đồng thời là người sử dụng đất: Tại khoản 1 Điều 15 Nghị định88/2009/NĐ-CP quy định hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận trong trường hợp này như sau:

    1. Người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp một (01) bộ hồ sơ gồm có:

    a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận;

    b) Trường hợp chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thì nộp giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 8 của Nghị định này; trường hợp chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thì nộp giấy tờ về quyền sở hữu công trình xây dựng theo quy định tại các khoản 1 và 3 Điều 9 của Nghị định này; trường hợp chứng nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng thì nộp một trong các giấy tờ về quyền sở hữu rừng cây quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và giấy tờ tại khoản 7 Điều 10 của Nghị định này;

    c) Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật (nếu có);

    d) Sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng (trừ trường hợp trong giấy tờ quy định tại điểm b khoản này đã có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng).

    Thứ hai, về trình tự thủ tục:

    Nơi nộp hồ sơ: Theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định 88 thì nơi nhận hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện (sau đây gọi là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện), trừ trường hợp quy định tại Điều 18 của Nghị định này.

    Thẩm quyền: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, xác minh thực địa trong trường hợp cần thiết; xác định đủ điều kiện hay không đủ điều kiện chứng nhận quyền sở hữu tài sản và xác nhận vào đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận.

    Trường hợp cần xác minh thêm thông tin về điều kiện chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất gửi phiếu lấy ý kiến cơ quan quản lý về nhà ở, công trình xây dựng, cơ quan quản lý nông nghiệp cấp huyện. Trong thời hạn không quá năm (05) ngày làm việc kể từ ngày nhận được phiếu lấy ý kiến, cơ quan quản lý về nhà ở, công trình xây dựng, cơ quan quản lý nông nghiệp có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;

    Văn phòng đăng ký nhà đất sẽ chuẩn bị hồ sơ kèm theo trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất (nơi chưa có bản đồ địa chính) để Phòng Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp ký Giấy chứng nhận.

    Thời gian giải quyết thủ tục cấp Giấy chứng nhận: Tại khoản 1,2,3 Điều 12 Nghị định88/2009/NĐ-CP quy định: “Thời gian thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ được quy định như sau:

    1. Không quá năm mươi (50) ngày làm việc đối với trường hợp cấp Giấy chứng nhận lần đầu.

    2. Không quá ba mươi (30) ngày làm việc đối với trường hợp cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà có nhu cầu bổ sung chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất.

    3. Không quá hai mươi (20) ngày làm việc đối với trường hợp cấp đổi Giấy chứng nhận không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”.

     

    Luật sư Vũ Thị Hiên - 0904 68 03 83

    Đoàn luật sư Tp Hà Nội

    Luật sư: Dân sự - Hình sự - Đất đai, Hôn nhân gia đình

    Chuyên soạn thảo: Hợp đồng đặt cọc, vay tài sản; biên bản thoả thuận

    Làm thủ tục sang tên sổ đỏ, cấp mới, đính chính

    Tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn, khai sinh, nhận cha con có yếu tố nước ngoài

    Visa, giấy phép lao động.

    Email: vuhien@luatdaiviet.vn

    Website:http://luatdaiviet.vn/

     
    Báo quản trị |  
  • #298986   24/11/2013

    yeumoitruong18
    yeumoitruong18

    Sơ sinh

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:24/11/2013
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 25
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Thủ tục chuyển nhượng,sang tên căn hộ chung cư

    Thủ tục sang tên căn hộ chung cư đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà (sổ đỏ)

    Bước 1: Hai bên đến văn phòng công chứng ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà;

    Bước 2: Nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;

    Bước 3: Thực hiện nghĩa vụ tài chính (thuế, phí, lệ phí);

    Bước 4: Nhân giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà.

    2. Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà bao gồm:

    1. Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà (theo mẫu);

    2. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà (bản chính + bản sao chứng thực);

    3. CMTND, sổ hộ khẩu của bên bán và bên mua (bản sao chứng thực);

    4. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà (công chứng);

    5. Hồ sơ kỹ thuật căn hộ (bản chính);

    6. Giấy đăng ký kết hôn hoặc giấy xác nhận tình trạng nhân thân (bản sao).

    3. Nghĩa vụ tài chính (thuế, phí, lệ phí) (Áp dụng từ ngày 01/7/2013 Ngày Luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi có hiệu lực)

    3.1 Lệ phí:

    Lệ phí trước = 0,5 % x Khung giá đất do UBND cấp tỉnh, thành phố quy định.

    3.2 Thuế thu nhập cá nhân: Có hai phương pháp tính sau đây:

    Cách 1: Thuế thu nhập cá nhân = 25% giá trị lợi nhuận (giá bán – giá mua)

    Giá bán: là giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng

    Giá mua: Là giá mua được xác định căn cứ vào giá ghi trên hợp đồng mưa. Đối với nhà ở không có nguồn gốc từ nhận chuyển nhượng, mua lại thì căn cứ vào hồ sơ thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng nhà ở.

    Cách 2: Áp dụng khi không xác định được giá mua

    Thuế thu nhập cá nhân = 2% Giá chuyển nhượng (giá ghi trong hợp đồng).

    Lưu ý: Quý khách được miễn thuế thu nhập cá nhân trong các trường hợp sau đây (xem tại đây)

    Nghĩa vụ nộp thuế: Theo quy định Luật thuế thu nhập cá nhân thì bên chuyển nhượng có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên hai bên có thể tự thỏa thuận bên có nghĩa vụ nộp thuế.

    Cập nhật bởi yeumoitruong18 ngày 24/11/2013 10:57:38 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #300441   03/12/2013

    luatnvs1
    luatnvs1
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/11/2013
    Tổng số bài viết (114)
    Số điểm: 1001
    Cảm ơn: 15
    Được cảm ơn 15 lần


    ĐÃ KÝ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, CÓ QUYỀN RÚT HỒ SƠ KHÔNG?

     



    Năm 1999, để tiện việc vay vốn ngân hàng, phục vụ cho việc kinh doanh, chị T đã hỏi mượn đất của mẹ là bà K. Sau đó, chị T và bà K đã lập một giấy viết tay về việc cho mượn đất. Cả hai mẹ con đã cùng đến UBND xã ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để người con gái đứng tên.


    Đầu năm 2012, do có muốn lấy đất lại để sau này chia đều cho các người con khác nên bà K đã yêu cầu chị T chuyển trả lại phần đất mà chị T đã mượn, chị T đồng ý. Hai mẹ con cùng đến UBND xã chứng thực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Và toàn bộ hồ sơ đã được nộp tại UBND xã để chuyển đến huyện, hẹn ngày nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.


    Ba ngày sau, người con gái thay đổi ý kiến nên đã đến UBND xã xin rút toàn bộ hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất thì được UBND xã giải quyết giao lại toàn bộ hồ sơ cho người con gái.


    Đến ngày hẹn theo giấy hẹn, người mẹ đến UBND xã để nhận kết quả giải quyết thì được biết người con gái đã rút toàn bộ hồ sơ nên bà mẹ bức xúc và đã khiếu nại đối với UBND xã. Vậy việc làm của UBND xã có đúng pháp luật hay không?

    Quan điểm thứ nhất cho rằng: việc làm của UBND xã là sai pháp luật vì hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa người mẹ và người con hoàn toàn tự nguyện và đã được UBND xã chứng thực theo qui định của pháp luật. Trong dân gian có câu: “bút xa gà chết”, nên khi đã ký thì người con gái không được quyền thay đổi ý kiến, không được quyền hủy việc tặng cho mà mình đã tự nguyện xác lập.


    Mặt khác, khoản 1 Điều 168 Bộ luật dân sự qui định: “Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.” Do đó, khi hai mẹ con ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và nộp tại UBND xã nghĩa là họ đã đăng ký quyền sở hữu vì theo trình thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải nộp hồ sơ tại UBND xã nơi có đất. Như vậy, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên đã xác lập quyền sở hữu, chuyển giao quyền cho người mẹ. Do vậy, UBND xã cho người con gái rút hồ sơ là không đúng pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người mẹ nên người mẹ khiếu nại là điều dễ hiểu.

    Quan điểm thứ hai không đồng tình với quan điểm thứ nhất và cho rằng cách làm của UBND xã là đúng với pháp luật.

    Bởi vì:
    Theo quy định tại Điều 688, Điều 692 Bộ luật dân sự; Điều 46 Luật đất đai và khoản 4 Điều 146 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/11/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai thì hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
    Như vậy, trường hợp chuyển đổi, chuyển nhượng và tặng cho quyền sử dụng đất không có tài sản gắn liền với đất, thì quyền sử dụng đất được xác lập cho người nhận chuyển đổi, chuyển nhượng và nhận tặng cho quyền sử dụng đất kể từ thời điểm đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, nghĩa là tại thời điểm Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tiếp nhận hồ sơ.

    Tuy nhiên, trong trường hợp nêu trên, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất chưa được chuyển đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất nên người con rút hồ sơ và được UBND xã giao trả hồ sơ là đúng pháp luật.


    Mặt khác, việc người con gái thay đổi ý kiến trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bà K thì bà K có quyền khởi kiện tranh chấp trên để Toà án xét xử theo qui định pháp luật.


     

     

     
    Báo quản trị |  

Chủ đề đã khép lại!