Theo bạn nói thì tôi có thể hiểu là người cha của người chồng là chủ sở hữu của quyền sử dụng đất nói trên. Các trường hợp có thể xảy ra là:<o:p></o:p>
Nếu người cha của người chồng đã lập di chúc hợp pháp trước khi mất năng lực hành vi dân sự thì khi ông ta mất. Tài sản của ông ta được chia theo di chúc. Tài sản nào chưa được định đoạt trong di chúc sẽ được chia thừa kế theo pháp luật (nếu di chúc không vi phạm các điều kiện khác. Xem từ điều 646 đến điều 673 BLDS).<o:p></o:p>
Nếu người cha của người chồng đã bị mất năng lực hành vi dân sự nên ông ta không thể lập di chúc sau khi mất năng lực hành vi dân sự. Nên Khi ông ta chết, những người thừa kế được hưởng thừa kế theo pháp luật. <o:p></o:p>
Nếu người chồng được được thùa kế quyền sử dụng đất nói trên thì căn cứ vào khoanr1 điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.” Đây là tài sản riêng của chồng nếu ông chồng không thỏa thuận đưa vào tài sản chung.<o:p></o:p>
Tuy nhiên, theo khoản 5 điều 33 luật Hôn nhân gia đình thì: Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thoả thuận của cả vợ chồng. Cập nhật bởi nguyenbuibahuy ngày 02/11/2011 11:00:36 SA
Nguyễn Bùi Bá Huy
nguyenbuibahuy@gmail.com