KHÁNG CÁO TÒA ÁN TỈNH VI PHẠM THỦ TỤC TỐ TỤNG, TÒA CẤP CAO KHÔNG XEM XÉT VẬY TRONG THỜI GIAN BAO NHIÊU KỂ TỪ NGÀY NỘP ĐƠN THÌ CÓ KẾT QUẢ GIÁM ĐỐC THẨM

Chủ đề   RSS   
  • #498710 04/08/2018

    congtygiaoducvutan
    Top 200
    Male
    Lớp 2

    Thanh Hoá, Việt Nam
    Tham gia:14/02/2013
    Tổng số bài viết (337)
    Số điểm: 3871
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 77 lần


    KHÁNG CÁO TÒA ÁN TỈNH VI PHẠM THỦ TỤC TỐ TỤNG, TÒA CẤP CAO KHÔNG XEM XÉT VẬY TRONG THỜI GIAN BAO NHIÊU KỂ TỪ NGÀY NỘP ĐƠN THÌ CÓ KẾT QUẢ GIÁM ĐỐC THẨM

    Tôi xin trình bày nội dung, xin Luật Sư và Thành viên Dân luật tư vấn giúp:

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

     

    Thanh Hóa, ngày 22  tháng 5  năm 2018

     

    ĐƠN BỔ SUNG CHI TIẾT THEO ĐƠN TRÌNH BÀY 28/3/2018

    Về việc kháng cáo toàn bộ bản án số 49/2017/HC-ST

    ngày 12/9/2017 của Tòa án Nhân Dân tỉnh Thanh Hóa.

     

    Kính gửi: Hội Đồng Xét Xử, Tòa Phúc Thẩm, Tòa Án Cấp Cao Tại Hà Nội

                    Đại Diện Viện Kiểm Sát Cấp Cao Tại Hà Nội

    Tên tôi là Lê Minh Vũ, sinh năm 1968. Là đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn Huy sinh năm 1925, là người khởi kiện vụ án hành chính đối với Quyết định 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia và Hành vi hành chính của UBND xã Tĩnh Hải xác lập ngày 10/5/2016.

    Địa chỉ: Thôn Liên Vinh, xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.

    Điện thoại số: 0913.128.167; Email: vutan326798@gmail.com.

     

    NỘI DUNG CHI TIẾT KHÁNG CÁO TÒA BỘ BẢN ÁN

         HĐXX tổng tóm tắt: "Theo đơn khởi kiện ngày 10/4/2017; đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày 01/7/2017".

         Nguyên đơn giải trình chi tiết 1

         - Căn cứ nhật ấn Bưu điện, Biên bản giao nhận tài liệu, chứng cứ, đối chiếu với tóm tắt của Hội đồng xét xử (HĐXX) thì các đơn còn tồn tại giá trị pháp lý trong hồ sơ vụ án không được HĐXX xem xét, không bác bỏ, không trả lại đơn gồm:

         + Đơn khởi kiện quyết định mang tên Công ty Giáo dục Vũ Tấn, đơn đề ngày 28/12/2016, nhật ấn bưu điện ngày 2/1/2017 (có trong hồ sơ Phúc thẩm);

         + Đơn khởi kiện quyết định mang tên người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Minh Vũ,  đơn đề ngày 2/3/2017 nộp ngày 2/3/2017 (có biên nhận nhưng đơn không có trong hồ sơ Phúc thẩm).

         + Đơn khởi kiện vụ án hành chính mang tên người khởi kiện là ông Lê Văn Huy và người nhận ủy quyền đơn đề ngày 12/4/2017 nộp ngày 12/4/2017 (có biên nhận nhưng đơn không có trong hồ sơ Phúc thẩm);

         + Đơn bổ sung thêm yêu cầu khởi kiện đơn đề ngày 16/8/2017, giao nộp ngày 25/8/2017 (có biên nhận nhưng đơn không có trong hồ sơ Phúc thẩm);

         + Đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện đơn đề ngày 12/9/2017, giao nộp ngày 12/9/2017 (có biên nhận nhưng đơn không có trong hồ sơ Phúc thẩm);

         - Không xem xét đối tượng khởi kiện vi hành chính của UBND xã Tĩnh Hải xác lập tại Biên bản làm việc ngày 10/5/2016.

         - Bút lục xét xử sơ thẩm thiếu 12 bút lục so với số bút lục chuyển sang Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa.

         + Thời gian từ nhận đơn đến thụ lý vụ án kéo dài 4 tháng 9 ngày (2/1/2017 đến 11/5/2017) mà không có lý do chính đáng. Thời gian này Thẩm phán hướng dẫn sửa đơn bằng miệng, định hướng có lợi cho người bị kiện, từ nguồn chứng cứ trở thành đối tượng khởi kiện bị hủy là vi phạm nghiêm trọng Luật tố tụng hành chính (LTTHC) quy định tại Điều 121. Nhận và xem xét đơn khởi kiện; Điều 122. Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; Điều 125. Thụ lý vụ án.

         - HĐXX hành xử không công bằng, không minh bạch:

         + Ngày 12/9/2017 trước lúc Hội đồng xét xử làm việc Thẩm phán có nhận đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện và chứng cứ. Nhưng không đưa chứng cứ và yêu cầu ra xem xét tại phiên tòa và cũng không biên nhận, theo mẫu giấy màu vàng ghim trên tập chứng cứ và yêu cầu bổ sung mà Tòa án trả lại cho tôi ngày 13/9/2017 có ghi: "Ông Lê Minh Vũ nộp tại phiên tòa sơ thẩm 12/9/2017" nên phiên xét xử chỉ mang tích hình thức.

         - Tôi không đồng ý việc xét xử vắng mặt người bị kiện và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Chủ tọa phiên tòa không lấy ý kiến HĐXX mà tự quyết định xét xử nên chứng cứ mâu thuẫn với nhau không được làm rõ tại tòa. Tôi yêu cầu HĐXX công khai hồ sơ UBND xã Tĩnh Hải lấy đất nông nghiệp năm 1993;1994 của gia đình ông Huy và hồ sơ giao đất cho 8 hộ trùng trên đất của gia đình tôi. thì Chủ tọa phiên tòa trả lời: "Anh đang khởi kiện UBND xã Tĩnh Hải thu và giao đất trái pháp luật thì làm gì có hồ sơ để công khai". Căn cứ Luật đất đai 1987 đối với đất bị UBND xã Tĩnh Hải chiếm trước 15/10/1993; Luật đất đai 1993 đối với đất bị UBND xã Tĩnh Hải chiếm sau ngày 15/10/1993 và Nghị định 64, năm 1993. Việc chủ tọa thừa nhận sai phạm của UBND huyện Tĩnh Gia và 8 hộ không có hồ sơ giao nhận đất, nên việc tôi yêu cầu hủy quyết định bồi thường hỗ trợ số 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 là có căn cứ:

         + Đối tượng bồi thường hỗ trợ không có các loại giấy tờ về đất, được Chủ tọa phiên tòa khẳng định trước HĐXX

         + Đối tượng được bồi thường hỗ trợ không sử dụng đất, căn cứ tại bút lục số 109; 119 là QĐGQKN của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia và tỉnh Thanh Hóa. Chứng cứ có số thứ tự 34 đơn khởi kiện ngày 10/4/2017 là bản tin phóng sự truyền hình của Báo Diễn đàn Doanh Nghiệp đầu năm 2016, chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải khẳng định đất bỏ hoang hóa không ai chịu đầu tư sản xuất. Là căn cứ về việc UBND huyện Tĩnh Gia làm hồ sơ giả bồi thường hỗ trợ cho người không sử dụng đất.

         HĐXX tổng tóm tắt: "Tuyên bố quyết định số 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tĩnh Gia (sau đây viết tắt là UBND) về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án: Đường Bắc Nam 2 - Khu kinh tế Nghi Sơn là quyết định trái pháp luật;"

         Nguyên đơn giải trình chi tiết 2. Trong hồ sơ vụ án có Văn bản của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa; Tiếp công dân Trung Ương Đảng; Văn phòng Chính phủ; các Bộ ngành và Báo VietNamNet gửi nhiều Công văn, Hướng dẫn, Thư chuyển đơn yêu cầu nhưng Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia không giải quyết khiếu nại. Năm 2013 gia đình tôi cũng đã khởi kiện chủ tich UBND tỉnh đến Tòa án Nhân tỉnh Thanh Hóa, bị tòa tỉnh trả lại đơn khởi kiện. Tôi kháng cáo tới Tòa án Nhân dân Tối cao. Ngày 12/9/2013 Tòa án Nhân đân Tối cao gửi Công văn số 589/PC-BTK tới Tòa án Nhân dân tỉnh Thanh Hóa (TAND-TTH). Về việc chuyển đơn thư khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhiều lần tôi đến Tòa án tỉnh kiến nghị nhưng đơn khởi kiện ngày 11/8/2013 Chánh án tỉnh Thanh Hóa vẫn không giải quyết. Khiếu kiện không giải quyết nên việc UBND huyện Tĩnh Gia Quyết định 8745/QĐ-UBND, ban hành để làm đường trùng trên đất của gia đình tôi là làm chấm dứt quyền và lợi ích hợp pháp, nên việc yêu cầu hủy Quyết định 8745/QĐ-UBND trái pháp luật là có căn cứ.

         HĐXX tổng tóm tắt: "Tuyên bố quyết định số 01/QĐ-TTTG ngày 26/9/1996 của Phó chánh thanh tra huyện Tĩnh Gia về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Văn Huy, thôn Vinh Quang, xã Tĩnh Hải là quyết định trái pháp luật;"

         Nguyên đơn giải trình chi tiết 3. Căn cứ đơn khởi kiện đầu tiên qua đường Bưu Điện, ngày 28/12/2016, tôi không khởi kiện Quyết định 01/QĐ-TTTG của Thanh Tra huyện Tĩnh Gia, ngày 26/9/1996, mà đưa quyết định 01/QĐ-TTTG vào với tư cách là nguồn chứng cứ khiếu kiện đòi tài sản, là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất bị UBND xã Tĩnh Hải chiếm đoạt và hủy hoại. Trong quá trình Tòa án hướng dẫn sửa đơn có nói với tôi rằng: Quyết định 01 của Thanh Tra huyện làm sai thì để lại hay hủy phải nêu rõ, đó là lý do đơn khởi kiện ngày 10/4/2017 tôi yêu cầu Tòa án bảo lưu một phần kết quả xác minh đúng thẩm quyền của Thanh tra và yêu cầu hủy phần quyết định giải quyết khiếu nại không đúng thẩm quyền của Thanh tra huyện Tĩnh Gia

         HĐXX tổng tóm tắt: "Yêu cầu xem xét hành vi thu hồi đất trái pháp luật của UBND xã Tĩnh hải, huyện Tĩnh Gia đối với gia đình ông Lê Văn Huy diễn ra từ năm 1993 đến năm 1995 tại 08 vị trí đất gồm: 02 ha tại khu vực Đê Hoàng Hóa; 01 ha tại khu vực Đê Làng; 67 thước đất trong sổ thuế nông nghiệp tại Đê làng; 06 sào đất đồng tôm ở Đê Làng; 420 m2 đất vườn tại thôn Liên Vinh; 225 m2 đất ở tại khu vực đê Làng và đê Châm; 600 m2 đất đồi ở khu vực Đê Làng và Đê Châm; 09 thước đất phía tây Đường 7".

         Nguyên đơn giải trình chi tiết 4.

         - Theo nội dung đơn khiếu kiện tôi đòi đất mà UBND xã Tĩnh Hải chiếm đoạt, tuyệt đối tôi không khởi kiện vụ án hành chính về hành vi thu hồi đất trái pháp luật của UBND xã Tĩnh Hải nên HĐXX đã nhận định sai về đối tượng khởi kiện.

         - Việc HĐXX thừa nhận tôi đòi đất bị chiếm đoạt ở 8 vị trí khác nhau, mục đích sử dụng đất khác nhau, thời điểm chiếm đoạt khác nhau là áp dụng Luật TTHC 2015 tại Điều 34 khoản 1 quy định: về việc giải quyết vụ án theo thủ tục chung, sau khi thông báo cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp để giải quyết. Việc HĐXX biến tất cả yêu cầu đòi tài sản thành đối tượng khởi kiện vụ án hành chính, để áp dụng thời hiệu chấm dứt quyền đòi tài sản là không đúng.

              HĐXX tổng tóm tắt: "... sơ đồ hiện trạng Đê Làng, Đê Hoằng Hóa, Đê Mới trước năm 1993 do ông Lê Minh Vũ tự vẽ; lời khai người làm chứng (ông Lê Quang Hồng; bà Lê Thị Ninh; ông Lê Hữu Bút; ông Lê Văn Quang) và các văn bản hướng dẫn đơn của cơ quan có thẩm quyền đối với ông Lê Văn Huy, ông Lê Minh Vũ từ năm 2008 đến nay."

         Nguyên đơn giải trình chi tiết 5. HĐXX khẳng định, sơ đồ hiện trạng Đê Làng, Đê Hoằng Hóa, Đê Mới tôi tự vẽ là không đúng. Bởi vì sơ đồ hiện trạng Đê Làng, Đê Hoằng Hóa, Đê Mới trước năm 1993 giao nộp trong hồ sơ vụ án do các hộ làm ruộng liền kề lập và cùng nhau ký xác nhận mốc giới với ruộng của gia đình tôi gồm: ông Quang; ông Bút; ông Hồng; bà Ninh; bà Thiết, ". Cùng với bản tự khai của các hộ làm ruộng liền kề, thể hiện rất rõ về vị trí hiện trạng đất của gia đình tôi tại thời điểm đất bị UBND xã Tĩnh Hải chiếm đoạt, chứng cứ này có trong hồ sơ vụ án.

         HĐXX tổng tóm tắt: "Tại bản tự khai ngày 25/5/2017 và quá trình giải quyết tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia trình bày:

    Năm 1996 nhận được đơn khiếu nại của ông Lê Vắn Huy ở thôn Vinh Quang, xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia, Thanh tra huyện Tĩnh Gia đã ban hành quyết định số 01/QĐ/TTTG ngày 26/9/1996 để gải quyết khiếu nại là đúng thẩm quyền. Căn cứ Điều 11, Mục 2 Pháp lệnh số 53-LCT/HDDNN8 của Hội đồng Bộ trưởng về khiếu nại tố cáo của công dân, Quyết định đã có hiệu lực pháp luật nên việc ông Lê Văn huy khởi kiện yêu cầu hủy QĐGQKN  của Thanh tra huyện Tĩnh Gia là không được chấp nhận."

         Nguyên đơn giải trình chi tiết 6. Người khởi kiện và người bị kiện đối lập quan điểm trong vụ án HĐXX không có ý kiến gì, đó là việc UBND huyện Tĩnh Gia căn cứ theo Điều 11, Mục 2 Pháp lệnh số 53-LCT/HDDNN8 thì Thanh tra huyện chỉ được giải quyết khiếu nại khi: Chủ tịch UBND xã đã giải quyết mà đương sự còn khiếu nại. Thực tế không có chứng cứ nào chứng minh UBND xã giải quyết khiếu nại mà gia đình tôi không đồng ý nên UBND huyện Tĩnh Gia áp dụng Điều 11 Mục 2 là không đúng. Theo Mục 2, Điều 10, khoản 2 Pháp lệnh số 53-LCT/HDDNN8 quy định: Khiếu nại việc làm của thủ trưởng cơ quan nào thì thủ trưởng cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết; Mặt khác Luật đất đai 1993 ngày 14/7/1993 tại điểm a khoản 2 Điều 38 quy định về việc giải quyết tranh chấp đất giữa hộ gia đình với tổ chức trong trường hợp người sử dụng đất không có giấy chứng nhận thì chủ tịch UBND huyện giải quyết. Như vậy căn cứ Pháp lệnh khiếu nại 1991; Luật đất đai 1993 thì việc chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải chiếm đoạt đất của gia đình tôi, Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia phải giải quyết. Do trong đối thoại và trong xét xử sơ thẩm vắng mặt người bị kiện nên nội dung này không được đối chất làm rõ trước HĐXX.

         HĐXX tổng tóm tắt: "Về nguồn gốc đất của các hộ dân được phê duyệt bồi thường theo quyết định số 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia để thực hiện dự án xây dựng đường Bắc Nam 2 - Khu kinh tế Nghi Sơn tại xã Tĩnh Hải là đất được UBND xã Tĩnh Hải giao cho các hộ nuôi trồng thủy sản theo dự án 327 của Chính phủ."

         Nguyên đơn giải trình chi tiết 7. Việc UBND huyện Tĩnh Gia khẳng định: UBND xã Tĩnh Hải giao đất cho các hộ nuôi trồng thủy sản theo dự án 237, là tự mâu thuẫn với tài liệu mà các bên đương sự giao nộp trong hồ sơ vụ án, đó là sổ thuế nông nghiệp đóng thuế đến năm 1992 chứng minh đất này không phải đất hoang hóa để thực hiện dự án 327. Tại các bút lục: (BL74; 286; 284) ông Hùng (trong 8 hộ) tự khai nhận là ông Hùng thầu đất và giấy UBND xã giao đất thầu cho ông Hùng có thu tiền nhưng quyết định 8745 lại bồi thường đất dự án 327 cho ông Hùng thể hiện rõ về việc UBND huyện Tĩnh Gia làm hồ sơ giả bồi thường; (BL281; 282) UBND xã Tĩnh Hải xác nhận cho ông Lê Văn Bụt chuyển nhượng đất thầu (xã thu tiền hàng năm, thầu có thời hạn) cho ông Lê Năng Nguyễn là vi phạm; (BL120) UBND tỉnh Thanh Hóa báo cáo Chính phủ về việc năm 2005 UBND xã Tĩnh Hải thu hồi đất của 8 hộ gia đình do không đạt mục tiêu thực hiện dự án 327; Văn bản của UBND tỉnh khẳng định năm 2006 UBND xã kêu gọi trên loa phóng thanh của xã cho đấu thầu công khai trên đất của 8 hộ mà xã đã thu hồi, người trúng thầu năm 2006 là ông Du và ông Vững khẳng định 8 hộ được bồi thường là do làm hồ sơ giả. (BL119) Quyết định 565/QĐ-UBND ngày 1/3/2012  của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa khẳng định năm 2008 khu đất này UBND xã Tĩnh Hải xác định là đất công ích 5% lấy tiền gửi ngân hàng, nhưng bị UBND tỉnh bác bỏ, do UBND huyện không xác định được chủ sử dụng đất nên UBND tỉnh yêu cầu UBND xã Tĩnh Hải nộp tiền bồi thường về đất vào ngân sách của UBND tỉnh. Quyết định 565/QĐ-UBND của tỉnh cũng tái khẳng định năm 2008 Đê Đạo (Đê Hoàng Hóa) người sử dụng là ông Du; ông Vững, Đê Làng có 27 hộ sử dụng. 8 hộ nhận tiền hỗ trợ trùng trên đất gia đình tôi mà tòa án đưa vào người có quyền lợi nghĩa vụ  liên quan trong vụ án mà QĐ-GQKN đã khẳng định việc các hộ đòi đất dự án 327 là không có cơ sở. Từ năm 2005, 8 hộ đã bàn giao đất cho xã, xã cho ông Du và ông Vững thầu khai thác tôm cá tự nhiên (thầu giữ cống). Căn cứ các quyết định GQKN của UBND huyện và tỉnh tại các năm 2010 - 2012, Văn bản của Thanh tra tỉnh và UBND tỉnh Báo cáo Chính phủ. Đối chiếu với quyết định 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia thì rõ ràng Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia không xác định chủ sử dụng đất trong thời gian dài, buông lỏng quản lý, hủy hoại đất, làm giả hồ sơ về vật kiến trúc, vật nuôi để hỗ trợ cho 8 hộ nhận tiền, việc nhận tiền có chia nhau tại UBND xã Tĩnh Hải, các sai phạm đó không được đối chất làm rõ tại tòa (BL114; 115) ngày 10/8/2010 Thanh tra tỉnh báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh về việc 8 hộ nêu trên thuộc "nhóm thứ 3", đã chuyển nhượng đất hoặc bỏ đất hoang không làm nên năm 2006 UBND xã Tĩnh Hải thu lại giao thầu cho ông Du, ông Vững.

         Nhìn chung từ (BL104 đến BL120) và nhiều quyết định năm 2010, năm 2012 của chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia và chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa giải quyết khiếu nại về việc 8 hộ đòi bồi thường đất dự án 327, các Quyết định đều khẳng định 8 hộ yêu cầu bồi thường đất dự án 327 là không có cơ sở. Trùng trên đất gia đình tôi đang khiếu nại, thì các quyết định có số bút lục kể trên, UBND huyện và UBND tỉnh đều nhắc đến việc 8 hộ bỏ đất hoang, năm 2006 UBND xã đã thu lại đất giao thầu cho ông Du và ông Vững. Mặt khác theo đơn ngày 10/4/2017 tại chứng cứ có số thứ tự 34 trong đơn khởi kiện là phóng sự truyền hình của Báo Diễn đàn Doanh Nghiệp, năm 2016 bà Nguyễn Thị Nga Chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải phát biểu trực tiếp, khẳng định vị trí đất gia đình tôi trùng với 8 hộ, là đất bỏ hoang nhiều năm không ai chịu tôn tạo, đầu tư là hoàn toàn phù hợp với các quyết định của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia năm 2010, quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa năm 2012. Đối chiếu với các bút lục: (Từ BL 123 đến BL 171 và từ 215 đến 232) về việc Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia lập dự toán ban hành quyết định bồi thường hỗ trợ cho các hộ, thì rõ ràng Quyết định 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia là kết quả của việc làm hồ sơ giả về công trình kiến trúc; khối lượng đào đắp; năng suất tôm, cua, cá cho các hộ nhận tiền hỗ trợ và bồi thường trái pháp luật, trong khi gia đình tôi khiếu kiện thì không giải quyết. Trước quyết định 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016, trên khu vực 8 hộ lấy tiền Quyết định số 1173/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia cũng đã bồi thường QSD đất cho UBND xã Tĩnh Hải, khối lượng đào đắp bồi thường cho ông Vững và ông Du (8 hộ Sắt; Sen; Hùng; Nhung; Nguyện; Nguyễn; Huấn; Trung không được bồi thường hỗ trợ vì bỏ đất hoang bị UBND xã đã thu hồi năm 2006). Các hộ tái chiếm là lợi dụng quyết định 1173 về việc UBND huyện Tĩnh Gia làm hồ sơ giả bồi thường đất cho UBND xã Tĩnh Hải và cán bộ tư pháp Vũ Văn Dũng.

         HĐXX tổng tóm tắt: "Khu vực đất ông Lê Văn Huy khiếu kiện theo hồ sơ 299 năm 1987, tại tờ bản đồ số 01 và tờ bản đồ số 02 gồm thửa 01 và thửa 189 là diện tích đo bao nguyên thửa. Tổng diện tích 75.931 m2, loại đất hoang, sổ mục kê ghi UBND xã. Theo hồ sơ địa chính năm 1998, tại tờ bản đồ số 12 gồm 15 thửa và tờ bản đồ số 7 là 08 thửa là đất nuôi tôm, sổ mục kê ghi UBND xã. Theo trích lục chỉnh lý số 34/TLB do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất lập ngày 20/6/2016: Thửa 11 và thửa 25 ghi tên Lê Văn Sắt, thửa 72 chi tên Lê Hữu Khuyên, thửa 31A và thửa 01 ghi tên Lê Năng Sen, thửa 32B, thửa 32F và thửa 15 ghi Lê Văn Hùng, thửa 10 ghi tên Lê Thị Nhung, thửa 21 ghi tên Lê Văn Nguyện, thửa 32H và thửa 23 ghi tên Lê Năng Nguyễn, thửa 27 và thửa 31 ghi tên Lê Văn Huấn, thửa 32A ghi tên Lê Ngọc Trung."

         Nguyên đơn giải trình chi tiết 8 Nhận định của HĐXX đã thể hiện rõ về việc UBND huyện Tĩnh Gia lập hồ sơ giả để bồi thường hỗ trợ tại Quyết định 8745/QĐ-UBND bởi các mâu thuẫn:

         + Mục kê và bản đồ 299 năm 1987 là đo bao, là đất hoang đồng bằng, chủ sử dụng đất là UBND xã nhưng tại BL105 (QĐ huyện 20/1/2010) lời khai của cán bộ địa chính thì đất đê Đạo, đê làng, đê Hoàng Hóa là đất 2 lúa. Người sử dụng đất là HTX Liên Vinh. Nhưng sổ thuế nông nghiệp lại tách thửa cho ông Huy, và là đất canh tác có hiệu quả.

         + Mục kê và bản đồ năm 1998 đất đê Đạo và đất đê Làng đã có tách thửa, là đất nuôi tôm, người sử dụng đất là UBND xã Tĩnh Hải là trái pháp luật

    Tại BL109 và 119 là các quyết định GQKN đều khẳng định 8 hộ đòi đất dự án 327 là không có cơ sở nhưng ngày 20/6/2016 UBND huyện Tĩnh Gia đã làm giả hồ sơ chỉnh lý tách thửa không có căn cứ, sai phạm này không được đối chất làm rõ tại tòa.

         Căn cứ tình hình sử dụng đất nêu trên (giải trình chi tiết 8), Quyết định Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia giải quyết khiếu nại ngày 20/1/2010 (BL 105), Quyết định 565/QĐ-UBND ngày 1/3/2012 (BL117) và Chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải Nguyễn Thị Nga phát biểu trên: Phóng sự truyền hình Báo Diễn đàn Doanh nghiệp (chứng cứ có số thứ tự 34 đơn khởi kiện ngày 10/4/2017). rõ ràng trích lục chỉnh lý số 34/TLB do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất lập ngày 20/6/2016 lập không có căn cứ (làm giả hồ sơ). UBND huyện Tĩnh Gia căn cứ hồ sơ làm giả này, tiếp tục làm giả hiện trạng sử dụng đất về vật kiến trúc, nhà, hoa màu, sản lượng cá tôm để bồi thường hỗ trợ trên đất hoang nên:  Ngoài việc làm chấm dứt quyền sử dụng đất của gia đình tôi thì Quyết định 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 còn vi phạm về việc làm giả chủ sử dụng đất qua các thời kỳ, làm giả hồ sơ bồi thường hỗ trợ trên đất hoang,  làm giả sản lượng tôm cá (BL135). Làm giả hồ sơ bồi thường về đất giữa BL2 không bồi thường về đất cho 8 hộ trùng nhưng BL153 có bồi thường về đất cho 8 hộ trùng trên đất gia đình tôi.

         HĐXX tổng tóm tắt: " một số hộ nhận đất nuôi trồng thủy sản theo dự án 327 tại khu vực Đê Đạo, Đê làng có khiếu nại đã được Chủ tịch UBND tỉnh GQKN tại Quyết định số 565/QĐ-UBND ngày 01/3/2012 trong đó đã nêu rõ nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của các hộ gia đình."

        Nguyên đơn giải trình chi tiết 9. Nhận định này mâu thuẫn nghiêm trọng với nội dung quyết định số 565, QĐ-UBND ngày 01/3/2012 tại BL119. Bản đồ 1998 và sổ mục kê ghi, đất nuôi tôm, chủ sử dụng đất là UBND xã Tĩnh Hải là hoàn toàn phù hợp với việc gia đình tôi khiếu kiện về việc UBND xã Tĩnh Hải chiếm đoạt đất của gia đình tôi.  BL109 Ngày 20/1/2010 QĐGQKN của Chủ tịch UBND huyện khẳng định là đất thầu, hoàn toàn phù hợp với đơn giao thầu trong hồ sơ vụ án.

         Mặt khác, căn cứ Điều 1, Quyết định 327 ngày 15/9/1992 thực hiện trên đất hoang, đối chiếu với: Sổ thuế nông nghiệp năm 1992. Giấy giao thầu cho ông Vũ, ông Hùng, ông Nguyễn. BL119 QĐ 565/QĐ-UBND ngày 1/3/2012 xác minh với UBND xã Tĩnh Hải thì: đê Làng đê Đạo là đất thầu của xã do vậy UBND xã Tĩnh Hải xác định nguồn gốc đất xác định là đất 5% của xã, xã lấy tiền đất, ông Du ông Vững lấy tiền hoa lợi không có tên 8 hộ. Xác minh theo quyết định chủ tịch huyện Tĩnh Gia tại bút lục 109 QĐGQKN cho các hộ ngày 20/1/2010 đều quy định: Đê Đạo trước năm 1993 là đất 2 lúa; không thực hiện được dự án 327 nên xã đã giao thầu thời hạn 10 năm (1993-2003 hợp đồng thầu của ông Đỉnh); năm 1997-2001 các hộ chuyển nhượng cho người trong xã ngoài huyện; năm 2001-2005 bỏ hoang; năm 2006 có 14 đơn tham gia đấu thầu trong đó có 11 đơn có 8 hộ thầu giai đoạn 1993-2003 tham gia, tái thầu khai thác tôm cá tự nhiên (thầu giữ cống), ông Du trúng thầu 60 triệu đồng mỗi năm, sau đó UBND xã thu lại 1 phần của ông Du cho ông Vững thầu. Các hộ (8 hộ) khiếu nại đòi đất nhưng không có loại giấy tờ gì về đất. Kết quả thẩm tra xác minh của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa tại BL118, xác định ông Lê Ngọc Dầu phó ban chỉ đạo dự án 327, tại BL109 ông Dầu khẳng định dự án 327 không thực hiện được và nêu ra căn cứ đê Đạo thầu 10 năm (theo hợp đồng của ông Đỉnh), do không đạt mục tiêu di dãn dân theo dự án 327. Việc UBND huyện Tĩnh Gia làm giả hồ sơ bồi thường hỗ trợ trên đất của gia đình tôi cho 8 hộ là có dấu hiệu cố ý làm trái quy định; lợi dụng chức vụ quyền hạn; lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Với các căn cứ, chứng cứ giao nộp trong hồ sơ vụ ánvề đất thầu thì rõ ràng quyết định 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia bồi thường hỗ trợ là không có căn cứ, mà là làm hồ sơ giả để nhận tiền bồi thường hỗ trợ lấy tiền chia nhau tại UBND xã Tĩnh Hải. Vi phạm này không được đối chất làm rõ.

         Theo quyết định 8745 không bồi thường về đất cho 8 hộ nhưng phương án bồi thường tại  BL153 có bồi thường về đất cho 8 hộ, HĐXX không đánh giá chứng cứ nên tình tiết phạm tội quan trọng này không được làm rõ.

         - Về đất Tây Đường 7 của gia đình tôi, UBND xã Tĩnh Hải không giao nộp mục kê bản đồ 299 năm 1987. BL72, 92 và 102 bản đồ 1998 thể hiện đo bao nguyên thửa đất canh tác, không có sổ mục kê. BL84  bản đồ 2011 đất canh tác đường 7 đã bị tách thành nhiều thửa đất ở, không có sổ mục kê. Riêng thửa đất của gia đình tôi tranh chấp quyết liệt với UBND xã nên đo bao, chủ sử dụng đất là UBND xã Tĩnh Hải và thôn Liên Vinh là trái pháp luật. Năm 2017 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất UBND huyện Tĩnh Gia cung cấp bản đồ và mục kê thì thửa đất của gia đình tôi đã bị tách thành 2 thửa, nhưng không ghi tên chủ sử dụng đất trong khi Sổ thuế quy định về đất quy chủ cho nông hộ thì ghi tên ông Lê Văn Huy.

    - Đất Cồn Đồi BL315 bản đồ 299 năm 1987 UBND xã Tĩnh Hải giao nộp (không có sổ mục kê) thể hiện rõ về hình dạng (chữ L) thửa đất của gia đình tôi như mô tả trong đơn khiếu kiện, Đồi thửa 42 diện tích 430m2, thửa Cồn và diện tích trên bản đồ mờ ghi không rõ. Thửa giáp gianh với đất bà Hẹ phía nam đo bao do không xác định chủ sử dụng đất. BL 326 bản đồ năm 1998 đất Cồn, Đồi đối chiếu với sơ đồ mà bà hẹ và ông Huệ ký mốc giới giáp gianh đất của bà Hẹ và ông Huệ thì đất Cồn, Đồi là thửa 214 và thửa 215. BL329 bản đồ UBND xã Tĩnh Hải làm giả năm 2016, căn cứ Biên bản ngày 10/5/2016 thì đất Cồn bị lấn chiếm, đất Đồi chỉ còn 136,9 m2. thửa giáp gianh phía nam đo bao năm 1998 bị chia thành nhiều thửa cho nhiều người không có đất.

         - Đất đê Làng, đất Cồn Đồi, đất Tây đường 7 Chon sâu 207m2. Chon gàng 123 m2. Cây gạo 200m2. Mục đồng 276 m2. Đê Châm 1500m2. Đê ba mẫu 300m2. Tây đường bảy 300 m2 Bản đồ 299 năm 1987 ghi người sử dụng đất là HTX thôn Liên Vinh. Trong khi căn cứ pháp lý là sổ thuế do Bộ tài chính phát hành quy định đất quy chủ cho nông hộ do UBND xã Tĩnh Hải lập thì lại ghi tên ông Huy, đất khiếu kiện có các hộ liền kề lập sơ đồ hiện trạng ký giáp gianh với ông Huy trong hồ sơ vụ án. Do vậy HĐXX khẳng định tôi không xác định được vị trí, ranh giới các thửa đất tranh chấp là không đúng.

         Năm 1998 bản đồ và sổ mục kê ghi: đất nuôi tôm, chủ sử dụng đất là UBND xã Tĩnh Hải là trái pháp luật. BL109 Ngày 20/1/2010 QĐGQKN của UBND huyện khẳng định là đất thầu là phù hợp với đơn giao thầu trong hồ sơ vụ án. BL117-119 ngày 1/3/2012 QĐGQKN của UBND tỉnh cũng không xác định được chủ sử dụng đất. Đầu năm 2016 chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải phát biểu công khai trên thông tin đại chúng (Báo diễn đàn Doanh nghiệp) là đất bỏ hoang không ai chịu đầu tư cải tạo.

         Căn cứ Điều 1, Quyết định 327 ngày 15/9/1992, đối chiếu với sổ thuế nông nghiệp mà gia đình tôi hoàn thành nghĩa vụ thuế nông nghiệp đến cuối năm 1992, thì việc UBND huyện Tĩnh Gia khẳng định giao đất cho 8 hộ theo dự án 327 là không có cơ sở, vì đất dự án 327 phải thực hiện trên đất hoang. Đối chiếu sổ thuế nông nghiệp nộp thuế đến cuối năm 1992 là hoàn toàn phù hợp với hồ sơ giao thầu cho ông Vũ; ông Hùng; ông Nguyễn có trong hồ sơ vụ án. Với đối chiếu này thì chắc chắn UBND huyện Tĩnh Gia đã làm giả hồ sơ từ đất thầu, đất bỏ hoang để bồi thường hỗ trợ đất dự án 327 cho 8 hộ theo quyết định 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016, của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia.

         - Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia không xác định được quyền sử dụng đất cho chủ sử dụng đất tại vị trí khiếu kiện, trong khi gia đình tôi khiếu kiện lại không được giải quyết, đó là lý do khi đường Bắc Nam 2 làm xong mà quyết định 8745 làm giả không bồi thường về đất nhưng phương án do UBND huyện Tĩnh Gia lập lại có bồi thường về đất.

         HĐXX tổng tóm tắt: "Ông Lê Minh Vũ không cung cấp được bất cứ tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh ông Lê Văn Huy có quyền sử dụng các thửa đất nêu trên, Sổ thuế nông nghiệp do ông Vũ xuất trình không phải là giấy tờ về đất mà chỉ là sổ thuế nông nghiệp theo khoán 10 trước năm 1993. Sau khi nghị định 64 của Chính phủ về việc giao đất sản xuất lâu dài cho hộ nông dân thì sổ này không được sử dụng nữa. Do đó việc ông Lê Văn Huy yêu cầu hủy quyết định phê duyệt bồi thường số 8745 không được chấp nhận."

        Nguyên đơn giải trình chi tiết 10. Sổ thuế nông nghiệp do Tổng cục thuế, Bộ tài chính phát hành do UBND xã ghi sổ, số sổ trùng với sổ lưu của xã. Sổ quy định về đất quy chủ cho nông hộ, căn cứ ghi sổ gồm tờ khai; sổ giao khoán; giấy chứng nhận sử dụng ruộng đất của nông hộ; mọi thông tin ghi chép thực hiện theo Pháp lệnh. Do vậy sổ thuế nông nghiệp đủ điều kiện được thay thế tất cả các loại giấy tờ về đất tại thời điểm sử dụng đất.

    Đất của gia đình tôi đủ điều kiện cấp giấy CNQSD đất theo Luật đất đai 1993 và nghị định 64, năm 1993. Năm 1993 - 1994 UBND xã Tĩnh Hải chiếm đất của gia đình tôi, cuối năm 1994 Chủ tịch huyện cấp giấy CNQSDĐ đợt đầu cho hộ gia đình. Do UBND xã Tĩnh hải cố ý chiếm đất của gia đình tôi nên UBND xã Tĩnh Hải tìm cách hủy bỏ hồ sơ về quyền sử dụng đất của gia đình tôi. Do gia đình tôi tranh chấp đất với UBND xã thì không thể căn cứ hồ sơ một phía mà UBND xã cung cấp. Để đánh giá khách quan phải căn cứ sổ thuế nông nghiệp của gia đình tôi mà UBND xã lập và hồ sơ quản lý cấp huyện và cấp tỉnh để xác minh, bởi UBND xã Tĩnh Hải và gia đình tôi đều là đương sự vụ tranh chấp. Việc gia đình tôi đưa ra nhân chứng, vật chứng là các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất mâu thuẫn với tài liệu của UBND xã (huyện không giao nộp tài liệu quản lý đất đai). Các mâu thuẫn không được đối chất làm rõ trước HĐXX do vắng mặt người bị kiện và người có nghĩa vụ liên quan là không đúng. Trước HĐXX tôi đã giải trình về nhân chứng, vật chứng để chứng minh quyền sử dụng đất. Còn UBND huyên Tĩnh Gia không có tài liệu giao nộp, mà chỉ dựa vào một số tài liệu trái pháp luật của thôn Liên Vinh, xã Tĩnh Hải để làm căn cứ. Vậy mà HĐXX vẫn bác bỏ yêu cầu hủy quyết định 8745 là không khách quan.

         + Nhân chứng xác nhận đất cho gia đình tôi có: ông Quang; ông Bút; ông Hồng; bà Ninh; bà Thiết là những người làm ruộng liền kề trước năm 1993 với gia đình tôi đã cùng nhau lập sơ đồ ký mốc giới, đông, tây, nam, bắc giáp ranh với gia đình tôi, cùng với bản các hộ tự khai đã giao nộp trong hồ sơ vụ án.

         + Vật chứng có căn cứ pháp lý gồm: Sổ thuế nông nghiệp phản ánh toàn bộ diện tích ruộng đất quy chủ cho nông hộ quản lý sử dụng do Tổng cục thuế, Bộ tài chính phát hành, vị trí thửa đất, diện tích, mức thuế là do UBND xã Tĩnh Hải lập ghi rõ ràng trong sổ; Đất khai hoang là 3 héc ta tôi tự khai trong đơn, ngày 28/8/1994 được Chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải, ký tên đóng dấu trên phần tự khai 3 héc ta đất khai hoang các hộ làm ruộng liền kề có ký xác nhận vị trí, mốc giới rõ ràng giao nộp trong hồ sơ vụ án; Về 3 héc ta đất khai hoang và 67 thước đất của ông cha để lại, ngày 26/9/1996 Thanh tra huyện Tĩnh Gia xác minh cho gia đình tôi là có.

         Với chứng cứ vừa nêu thì việc UBND xã Tĩnh Hải không xuất trình được hồ sơ thu hồi đất và hồ sơ giao đất cho 8 hộ là UBND xã Tĩnh Hải vi phạm: Điều 1; khoản 1; khoản 3; Điều 3; khoản 2 Điều 4; khoản 1 Điều 13 Nghị định 64 ngày 27/9/1993.

         Căn cứ khoản 2, khoản 5 Điều 403 Luật dân sự số 44-L/CTN ngày 28/10/1995 thì Sổ thuế nông nghiệp năm 1992; Đơn xin thầu đê có kê khai 3 héc ta đất khai hoang của gia đình có xác nhận của Chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải ngày 28/8/1994; Kết luận thanh tra huyện Tĩnh Gia tại Văn bản số 01/QĐ-TT TG ngày 26/9/1996 thì các loại giấy tờ này là chứng cứ về nguồn gốc và quyền sử dụng đất của gia đình tôi mà Luật 44-L/CTN quy định, là chứng cứ không cần phải chứng minh.

         Căn cứ Luật Tố tụng hành chính 2015. Điều 79. Khoản 2 quy định, những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh đó là: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đưa ra tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản đó không phải chứng minh. Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận hoặc không phản đối của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện”. Như vậy với các nhân chứng mặt, vật chứng trình bày tại phiên tòa. UBND huyện Tĩnh Gia không có tài liệu, lời nói phản tố thì HĐXX phải áp dụng Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định tại Điều 79 khoản 2 để công nhận chứng cứ hợp pháp cho gia đình tôi.

         HĐXX tổng tóm tắt: "Tại bản tự khai ngày 25/5/2017 và quá trình giải quyết tại Tòa án, Chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia trình bày:

         Khu đất Đê Hoàng Hóa và Đê Làng do Hợp tác xã thôn Liên Vinh quản lý, thực hiện Luật đất đai năm 1993, một số diện tích đã được giao cho các hộ quản lý, một số diện tích nhiễm mặn Nhà nước có chủ trương giao đất nuôi trồng thủy sản theo dự án 327 năm 1993."

        Nguyên đơn giải trình chi tiết 11. UBND xã Tĩnh Hải giao đất cho các hộ theo dự án 327 là không đúng vì trong hồ sơ vụ án các hộ không có bất cứ loại giấy tờ gì về việc UBND xã Tĩnh Hải giao đất. Mặt khác tại BL109 và 119 QĐ-GQKN của huyện Tĩnh Gia và tỉnh Thanh Hóa khẳng định các hộ đòi đất dự án 327 là không có cơ sở, nên quyết định 8745 là làm giả.

         HĐXX tổng tóm tắt: "Từ trước đến nay gia đình ông Huy không sử dụng đất, không có giấy tờ gì chứng minh về quyền sử dụng đất và cũng không nêu được vị trí, ranh giới, kích thước các thửa đất. không sử dụng nên UBND xã đã giao lại cho ông Lê Văn Bụt, tháng 1/1999 ông Bụt đã chuyển nhượng cho ông Lê Năng Nguyễn, theo bản đồ năm 2011 là thửa 223, diện tích 4.806 m2, chủ sử dụng là ông Lê Năng Nguyễn. Khi thực hiện dự án đường Bắc Nam 2 ông Lê Năng Nguyễn là người được bồi thường. Về số tiền 400.000 đ ông Vũ nộp chưa được nhận lại và tiền đền bù do UBND xã chặt cây cối năm 1995 đã được giải quyết tại Quyết định số 01/QĐ-TTTG ngày 26/9/1996 của Thanh tra huyện Tĩnh Gia, qua kiểm tra sổ sách Chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải không được bàn giao công nợ nên UBND xã Tĩnh hải không có cơ sở để giải quyết.

         Nguyên đơn giải trình chi tiết 12. Gia đình tôi không sử dụng đất là vì UBND xã Tĩnh hải chiếm đoạt, cản trở thực hiện quyền sử dụng đất, mặc dù có đầy đủ nhân chứng làm ruộng liền kề xác nhận và các loại giấy tờ về đất giao nộp trong hồ sơ vụ án. Việc UBND xã xác nhận cho ông Bụt chuyển nhượng đất thầu trả tiền hàng năm cho ông Nguyễn trên đất nhà tôi tại vị trí đất có đơn khiếu nại là vi phạm khoản 3 Điều 8 Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999. Về sơ đồ hiện trạng gia đình tôi sử dụng tại thời điểm năm 1993 mà gia đình tôi và các hộ liền kề ký giáp ranh, tôi đã giao nộp cho Tòa án ngày 17/7/2017; 2/8/2017; ngày 25/8/2017 hoàn toàn phù hợp với bản đồ địa chính của UBND huyện Tĩnh Gia tại BL71 (bản đồ đê 1998); BL72 (bản đồ tây đường 7-1998); BL73 (bản đồ đê, cồn đồi 2011); BL89 (bản đồ đê 1998); BL90 (bản đồ đê 1998); BL84 (bản đồ đất tây đường 7-2011); BL315 (bản đồ cồn đồi 1998); BL321(bản đồ đê 1998); BL326 (bản đồ cồn đồi 1998). Như vậy việc UBND xã Tĩnh Hải khẳng định tôi không nêu được vị trí ranh giới thửa đất là không đúng với chứng cứ giao nộp trong hồ sơ vụ án. Về việc bồi thường cây bị chặt phá, năm 2010 bà Nguyễn Thị Nga đang là kế toán xã, đã từng chứng kiến ông Lê Trọng Hồng Chủ tịch UBND xã chỉ đạo thẩm định giá để bồi thường cây chặt năm 1995 cho gia đình tôi, chưa giải quyết chi trả thì ông Hồng chuyển công tác. Bà Nga lên làm chủ tịch khẳng định với tòa là không bàn giao công nợ, không biết vụ việc và gia đình tôi chưa từng đòi bồi thường là không đúng.

        HĐXX tổng tóm tắt: "Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm các ông bà: Lê Văn Sắt; Lê Năng Sen; Lê Văn Hùng; Lê Thị Nhung; Lê Văn Nguyện; Lê Năng Nguyễn; Lê Văn Huấn; Lê Ngọc Trung có đơn và bản tự khai trình bày: Khoảng năm 1988 đến năm 1993 các gia đình cùng nhau khai hoang tại bờ đê Hoàng Hóa thuộc địa phận xã Tĩnh hải, huyện Tĩnh Gia và được Nhà nước giao đất theo dự án 327, .... Việc ông Lê Văn Huy ủy quyền cho con trai là ông Lê Minh Vũ khởi kiện Quyết định phê duyệt bồi thường số 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của UBND huyện Tĩnh Gia là không có cơ sở, đề nghị Tòa xét xử theo quy định của pháp luật."

         Nguyên đơn giải trình chi tiết 13. Lời khai của 8 hộ mâu thuẫn với quyết định GQKN tại BL 109 và BL119 bởi đơn và QĐ-GQKN của các hộ không đề cập gì đến việc các hộ khai hoang đất tại đê Hoàng Hóa, mâu thuẫn không được làm rõ do các hộ vắng mặt cả trong đối thoại và xét xử nên mâu thuẫn không được làm rõ. Các BL104 đến 120 đều là các quyết định năm 2010 Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia GQKN về việc 8 hộ đòi đất dự án 327, nhưng các Quyết định đều ghi rõ, 8 hộ đó đòi bồi thường đất dự án 327 là không có cơ sở nên QĐ 8745 làm giả chỉ hỗ trợ không bồi thường về đất nhưng BL153 cả bồi thường đất và hỗ trợ cho 8 hộ thì việc hủy quyết định 8745 của chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia là có căn cứ và cần thiết phải truy cứu trách nhiệm đối với người có thẩm quyền trong việc làm giả hồ sơ nhận tiền bồi thường trái pháp luật.

         Như vậy QĐ 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia là quyết định trái pháp luật, mang tính chất cố ý, rất nghiêm trọng "vi phạm kép" đó là: Quyết định làm đường trên đất tranh chấp - Lập hồ sơ giả ban hành quyết định hỗ trợ cho 8 hộ trên đất gia đình tôi đang có khiếu kiện - Ban hành quyết định hỗ trợ cho 8 hộ bỏ hoang đất từ năm 1999-2005 mà Các quyết định của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia năm 2010, quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa năm 2012 và bài phát biểu trực tiếp của Chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải, Nguyễn Thị Nga trên Báo diễn đàn Doanh nghiệp khẳng định - Ban hành quyết định bồi thường hỗ trợ không xác định được quyền sử dụng đất cho chủ sử dụng đất, trong khi gia đình tôi khiếu nại liên tục trong thời gian dài có đầy đủ nhân chứng, vật chứng thì không xem xét giải quyết.

    Kháng cáo kết luận của Hội đồng xét xử (HĐXX):    

         HĐXX kết luận:"Những người làm chứng gồm các ông bà: Lê Quang Hồng, Lê Thị Ninh, ông Lê Hữu Bút, ông Lê Văn Quang có bản tự khai thống nhất như sau: Đất của các gia đình ông Hồng, bà Ninh, ông Bút, ông Quang nằm giáp phía Bắc và phía Nam đất của gia đình ông Huy tại Đê Làng. Năm 1994 UBND xã Tĩnh Hải thu toàn bộ đất tại Đê làng cho thầu nuôi tôm với thời hạn 20 năm (1994-2014), các ông bà đã có đơn khiếu nại đòi đất nhưng không được UBND xã Tĩnh hải và UBND huyện Tĩnh Gia giải quyết. Tất cả các ông bà đã ký vào sơ đồ "Hiện trạng Đê làng, Đê Mới và Đê Hoàng Hóa trước năm 1993" do ông Lê Minh Vũ lập để công nhận vị trí liền kề và cam đoan khu đất của ông Huy liền kề với khu đất của các ông, bà là có thật, việc ông Huy khởi kiện đòi đất là đúng đề nghị Tòa xem xét giải quyết.  

         Tòa án đã tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu chứng cứ và tiến hành đối thoại, nhưng các bên không thống nhất được với nhau, do vậy vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm".

         1. Kháng cáo kết luận ý thứ nhất: Theo đơn bổ sung ngày 1/7/2017 tôi có bổ sung người có nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn Quang; ông Lê Văn Bút; ông Lê Quang Hồng; bà Lê Thị Ninh nhưng Thẩm phán không đồng ý nên các ông bà không được triệu tập đối thoại làm rõ.

         HĐXX kết luận: "Tại phiên tòa, người khởi kiện giữ nguyên nội dung khởi kiện. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phát biểu quan điểm:"

         2. Kháng cáo kết luận ý thứ hai: HĐXX khẳng định người khởi kiện giữ nguyên nội dung khởi kiện do vậy HĐXX đã không xem xét các đơn đề ngày 28/12/2016, nhật ấn bưu điện ngày 2/1/2017. Đơn đề ngày 2/3/2017, nộp ngày 2/3/2017. Đơn đề ngày 12/4/2017 nộp ngày 12/4/2017. Đơn bổ sung thêm yêu cầu khởi kiện đơn đề ngày 16/8/2017, giao nộp ngày 25/8/2017. Đơn đề ngày 12/9/2017, giao nộp ngày 12/9/2017 là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vụ án cần xét xử lại.

         HĐXX nhận định: "Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục từ khi thụ lý, tổ chức đối thoại, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến tại phiên tòa sơ thẩm; người tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ, đảm bảo đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Luật tố tụng hành chính (sau đây viết tắt là TTHC)"

         3. Kháng cáo kết luận ý thứ ba: HĐXX kết luận như vậy là không đúng do:

         + Tòa án không hướng dẫn sửa đổi bổ sung đơn theo quy định; kéo dài thời hạn thụ lý 4 tháng 9 ngày, quá hạn mà không có lý do chính đáng.

         + Đối thoại và xét xử vắng mặt người bị kiện và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên các mâu thuẫn không được làm rõ, là nguyên nhân HĐXX ra bản án không đúng.

         HĐXX nhận định: Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 116; điểm g, khoản 1 Điều 143 của luật TTHC: Đình chỉ giải quyết yêu cầu hủy quyết định GQKN số 01/QĐ-TTTG  ngày 26/9/1996 của Thanh tra huyện Tĩnh Gia và yêu cầu tuyên bố hành vi thu hồi đất trái pháp luật của UBND xã Tĩnh Hải từ năm 1993-1995 đối với gia đình ông Lê Văn Huy; bác yêu cầu hủy Quyết định phê duyệt bồi thường số 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của UBND huyện Tĩnh Gia và miễn án phí hành chính sơ thẩm cho ông Lê Văn Huy theo quy định của pháp luật

         4. Kháng cáo kết luận ý thứ tư:

         - HĐXX đình chỉ giải quyết yêu cầu hủy quyết định 01/QĐ-TTTG là đình chỉ nội dung khởi kiện bổ sung theo hướng dẫn theo định hướng của Thẩm phán. Theo đơn khởi kiện đầu tiên ngày 28/12/2016 tôi không yêu cầu hủy quyết định 01/QĐ-TTTG ngày 26/9/1996 của thanh tra huyện Tĩnh Gia, mà nêu nội dung xác minh với tư cách là nguồn chứng cứ. Khi Thẩm phán hướng dẫn (bằng lời nói) cho tôi sửa đơn, Thẩm phán có hỏi tôi: "anh cho rằng quyết định 01/QĐ-TTTG là không đúng thẩm quyền thì anh yêu cầu hủy hay để lại phải yêu cầu rõ". Do đó trong đơn sửa đổi ngày 10/4/2017 tôi có thêm 2 yêu cầu đó là: Đề nghị bảo lưu phần kết quả xác minh tại quyết định 01/QĐ-TTTG ngày 26/9/1996 của Phó thanh tra huyện Tĩnh Gia để làm căn cứ xem xét vụ việc và yêu cầu Hủy quyết định GQKN số 01/QĐ-TTTG ngày 26/9/1996 của thanh tra huyện Tĩnh Gia. Việc đình chỉ giải quyết yêu cầu hủy quyết định 01/QĐ-TTTG là việc chấm dứt truy cứu trách nhiệm đối với người ra quyết định trái pháp luật, còn việc gia đình tôi đòi tài sản là bất động sản bị chiếm đoạt thì không ảnh hưởng vì quyết định này không phải là quyết định giải quyết khiếu nại mà pháp luật tại thời điểm đó quy định. Đối với yêu cầu xin bảo lưu kết quả xác minh của thanh tra huyện HĐXX chưa có ý kiến gì.

         - HĐXX đình chỉ giải quyết yêu cầu tuyên bố hành vi thu hồi đất trái pháp luật của UBND xã Tĩnh Hải từ năm 1993-1995 đối với gia đình ông Lê Văn Huy là không đúng. Bởi vì tuyệt đối tôi không khởi kiện hành vi thu hồi đất trái pháp luật, mà có yêu cầu trả lại đất chiếm đoạt là áp dụng Điều 34 và 35 Luật TTHC. Do đó việc HĐXX tự đưa vào hành vi thu hồi đất trái pháp luật là hành vi hành chính để áp dụng thời hiệu, chấm dứt quyền đòi tài sản của gia đình tôi là không đúng.  

         - HĐXX bác yêu cầu hủy Quyết định phê duyệt bồi thường số 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của chủ tịch UBND huyên Tĩnh Gia, thể hiện HĐXX không đánh giá chứng cứ bởi vì QĐ 8745 có những vi phạm như sau:

    + Quyết định 8745 là quyết định có mục đích làm đường trên đất tranh chấp chưa giải quyết, làm chấm dứt quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình tôi.

    + Quyết định 8745 làm giả không bồi thường về đất cho 8 hộ, nhưng tại BL153 phương án có bồi thường về đất cho 8 hộ.

    + Quyết định 8745 làm giả để hỗ trợ cây cối hoa màu (vật nuôi), nhà, vật kiến trúc trên đất hoang. Chứng cứ có số thứ tự 34 giao nộp theo đơn khởi kiện ngày 10/4/2017 đó là lời khẳng định chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải trên truyền hình về đất hoang

    + Quyết định 8745 làm giả để hỗ trợ cho người không sử dụng đất BL109 và 119 đó là các quyết định GQKN của chủ tịch UBND huyện và tỉnh.

    + Quyết định làm giả từ hồ sơ đất thầu hết thời hạn sang mục đích sử dụng đất dự án 327 căn cứ BL281-286 trong hồ sơ vụ án.

    Với các vi phạm đó, việc HĐXX bác yêu cầu hủy quyết định 8745 là không đúng và có dấu hiệu xâm phạm hoạt động tư pháp.

    NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

        HĐXX nhận định: "Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; ý kiến của Kiểm sát viên và các bên đương sự"

         2. Kháng cáo chi tiết nhận định bản án:

    - Tài liệu chứng cứ mâu thuẫn với nhau không được đánh giá thẩm tra, xem xét tại phiên tòa đó là: Sổ thuế nông nghiệp chủ sử dụng đất là ông Lê Văn Huy nhưng mục kê của xã chủ sử dụng đất lại là UBND xã; hồ sơ giao đất thầu hết thời hạn nhưng lại làm hồ sơ bồi thường đất dự án 327; phương án có bồi thường về đất nhưng quyết định 8745 lại không bồi thường về đất; Yêu cầu trả lại đất chiếm đoạt tại 8 vị trí khác nhau về diện tích, mục đích sử dụng đất, loại đất không được làm rõ cho từng vị trí mà chỉ nêu chung chung; nguyên đơn và bị đơn tranh chấp nhau về căn cứ pháp lý, đó là việc nguyên đơn căn cứ Điều 10 Pháp lệnh khiếu nại 1991, bị đơn căn cứ Điều 11 Pháp lệnh khiếu nại 1991 không được làm rõ vv... Trong phiên xét xử chỉ có ý kiến của người khởi kiện và người làm chứng, do vắng mặt người bị và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên các mâu thuẫn không được đối chất làm rõ. Do vậy việc HĐXX nhận định có ý kiến của các bên đương sự là không đúng.

         HĐXX nhận định: "Về đối tượng vụ án hành chính: Ông Lê Văn Huy có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố  QĐGQKN số 01/QĐ-TTTG ngày 26/9/1996 của Thanh tra huyện Tĩnh Gia và Quyết định phê duyệt bồi thường số 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của UBND huyện Tĩnh Gia là trái pháp luật, đồng thời yêu cầu hủy các quyết định nêu trên. Đây là quyết định hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND tỉnh theo khoản 2 Điều 3; khoản 4 Điều 32 Luật TTHC. Đối với yêu cầu xem xét hành vi thu hồi đất trái pháp luật của UBND xã Tĩnh Hải từ năm 1993 đến năm 1995 với gia đình ông Lê Văn Huy có liên quan trong vụ án, song cần xem xét về thời hiệu."

         3. Kháng cáo chi tiết nhận định bản án

    - HĐXX nhận định nhầm yêu cầu giải quyết thành đối tượng khởi kiện, bởi vì trong đơn khiếu kiện tôi có yêu cầu UBND xã Tĩnh Hải trả lại đất chiếm đoạt là căn cứ Điều 34 và Điều 35 Luật TTHC. Tuyệt đối tôi không khiếu kiện hành vi thu hồi đất trái pháp luật, do vậy việc HĐXX nhầm đối tượng chiếm đoạt thành đối tượng vụ án hành chính (thu hồi trái) để áp dụng thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính chấm dứt đòi tài sản là không đúng.

         HĐXX nhận định: "Về thời hiệu khởi kiện: Tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật TTHC quy định: "01 năm kể từ ngày nhận được, biết được Quyết định hành chính, hành vi hành chính". Theo đó, Quyết định GQKN số 01/QĐ-TTTG của Thanh tra huyện Tĩnh Gia ban hành ngày 26/9/1996 và hành vi thu hồi đất trái pháp luật của UBND xã Tĩnh Hải diễn ra từ năm 1993-1995 đối với gia đình ông Huy (nếu có) đến nay đã hết thời hiệu khởi kiện. Việc ông Lê Minh Vũ cho rằng gia đình ông liên tục khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền nhưng chưa được giải quyết không phải là sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên không tính vào thời hiệu khởi kiện. Do đó Hội đồng xét xử sơ thẩm đình chỉ giải quyết một phần đơn khởi kiện (theo điểm a khoản 2 Điều 116; điểm g khoản 1 Điều 143 Luật TTHC). Đối với Quyết định phê duyệt bồi thường số 8745/QĐ-UBND của UBND huyện Tĩnh Gia ban hành ngày 08/12/2016, ông Vũ nộp đơn khởi kiện ngày 12/4/2017 nên thời hiệu vẫn còn."

         4. Kháng cáo chi tiết nhận định bản án:

    - Theo đơn khởi kiện ngày 28/12/2016 tôi không khởi kiện quyết định 01/QĐ-TTTG ngày 26/9/1996, trong hướng dẫn sửa đơn Tòa án định hướng cho tôi yêu cầu hủy quyết định 01/QĐ-TTTG.

    - Việc HĐXX đình chỉ giải quyết hành vi thu hồi đất trái pháp luật là không có căn cứ, vì theo đơn khởi kiện và đơn sửa đổi bổ sung khởi kiện tôi chỉ yêu cầu giải quyết hành vi của UBND xã Tĩnh Hải chiếm đoạt đất. Hành vi chiếm đoạt không phải là hành vi hành chính do vậy HĐXX thay hành vi chiếm đoạt thành hành vi thu hồi để chấm dứt việc gia đình tôi đòi tài sản là không đúng. Việc tôi yêu cầu giải quyết hành vi chiếm đoạt trong vụ án hành chính là áp dụng Điều 34 và 35 Luật TTHC 2015. Việc gia đình tôi đòi tài sản là bất động sản (đất và tài sản trên đất), HĐXX đình chỉ một phần với việc đòi tài sản là không đúng.

    - Tôi nêu lên quá trình khiếu nại kéo dài và giao nộp các Văn bản của tỉnh, Trung ương chỉ đạo chủ tịch UBND huyện giải quyết khiếu nại không phải là chứng minh kéo dài thời hiệu khởi kiện. Mà là chứng minh về khiếu kiện kéo dài không giải quyết, dù vậy từ năm 2013 trở về trước, tôi không khởi kiện vụ án hành chính là vì không muốn ảnh hưởng đến hình ảnh chính quyền và tránh được sự kỳ thị của cán bộ. Do khiếu nại không giải quyết đã ban hành quyết định làm đường trên đất của gia đình tôi làm chấm dứt quyền và lợi ích của gia đình tôi nên tôi phải khởi kiện.

         - Hành vi thu hồi đất trái pháp luật là hành vi hành chính nhưng không có căn cứ về việc tôi khởi kiện UBND xã Tĩnh hải hành vi này. Trong đơn tôi khiếu kiện hành vi của UBND xã Tĩnh Hải là hành vi chiếm đoạt tài sản quyền sử dụng đất và tài sản găn liền trên đất là cây bị chặt phá. Căn cứ Bộ luật dân sự 2015, Điều 3 khoản 4 quy định: "Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác" do vậy việc HĐXX áp dụng thời hiệu Luật TTHC quy định đối với việc tôi đòi tài sản là sai.

         + Căn cứ Luật TTHC 2015 quy định tại Điều 3 khoản 1, khoản 2 thì Quyết định 8745/QĐ-UBND của chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia, thời hiệu xác lập thời hiệu khởi kiện ngày 08/12/2016. Đối tượng khởi kiện này HĐXX không đánh giá chứng cứ, tài liệu và cũng không được đối chất làm rõ tại phiên tòa. Căn cứ Luật TTHC 2015 quy định tại Điều 3 khoản 3, khoản 4 thì Hành vi hành chính của UBND huyện Tĩnh Gia do không giải quyết đơn khiếu nại, thời hiệu xác lập hành vi khởi kiện là ngày 28/3/2016 và 28/4/2016 . Đối tượng khởi kiện này HĐXX không xem xét tại phiên tòa. Căn cứ Luật TTHC 2015 quy định tại Điều 3 khoản 3, khoản 4 thì Hành vi hành chính của UBND xã Tĩnh Hải, xét nguồn gốc đất đánh tráo khái niệm, viện dẫn tự bào chữa không có căn cứ và không kiểm kê bồi thường, thời hiệu xác lập hành vi khởi kiện là ngày 10/5/2016. Đối tượng khởi kiện này HĐXX không xem xét tại phiên tòa.

         + Căn cứ đơn khởi kiện và đơn sửa đổi bổ sung thì không có đối tượng khởi kiện vụ án hành chính đối với hành vi thu hồi đất trái pháp luật của UBND xã Tĩnh Hải diễn ra từ năm 1993-1995 đối với gia đình ông Huy do vậy HĐXX áp dụng thời hiệu của Luật TTHC đối với yêu cầu đòi tài sản quyền sử dụng đất là không đúng. Gia đình tôi đòi tài sản là bất động sản, đó là Quyền sử dụng đất bị UBND xã Tĩnh Hải chiếm đoạt và cây gắn liền trên đất bị UBND xã Tĩnh Hải chặt phá. Việc HĐXX tách đòi tài sản thành hai phần, để đình chỉ một phần việc đòi tài sản là quyền sử dụng đất là HĐXX vi phạm Bộ luật dân sự quy định tại Điều 3 khoản 4.

         HĐXX nhận định: "Về căn cứ ban hành Quyết định phê duyệt bồi thường số 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của UBND huyện Tĩnh Gia: Tại khoản 1 Điều 74 Luật đất đai năm 2013 quy định: "Người sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại điều 75 của luật này thì được bồi thường"; khoản 1 Điều 75 Luật đất đai 2013 quy định: "Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhạn quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất (Sau đây gọi là giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để dược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất...". Như vậy điều kiện để được bồi thường phải là người có giấy tờ hoặc là người đang sử dụng đất."

         5. Kháng cáo chi tiết nhận định bản án:

    HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 74 và khoản 1 Điều 75 Luật đất đai 2013 áp dụng cho việc UBND huyện Tĩnh Gia ban hành Quyết định 8745 bồi thường cho các hộ là cố ý làm trái quy định. Vì trong hồ sơ vụ án 8 hộ không có bất cứ loại giấy tờ gì về đất, nêu rõ tại BL109 và BL119, QĐGQKN của UBND huyện Tĩnh Gia và tỉnh Thanh Hóa đều khẳng định các hộ đòi đất dự án 327 là không có cơ sở. Về phía chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải, năm 2016 cũng khẳng định trên truyền hình Báo Diễn đàn Doanh nghiệp về việc đất bị bỏ hoang không ai đầu tư, cải tạo.

         HĐXX nhận định: "Theo ông Lê Minh Vũ, nguồn gốc đất của 08/13 hộ được phê duyệt bồi thường theo quyết định 8745 là do gia đình ông khai hoang trước năm 1980 tại khu vực Đê Đạo, Đê, Hoàng Hóa, Đê Làng, và 67 thước tại hón tre là đất của ông cha ông, nhưng năm 1993 đến năm 1995 đã bị UBND xã Tĩnh Hải thu hồi trái pháp luật giao cho người khác. Tuy nhiên toàn bộ hồ sơ quản lý đất đai các thời kỳ tại khu vực ông Huy khiếu kiện là đất nông nghiệp do Hợp tác xã thôn Liên Vinh và UBND xã Tĩnh Hải quản lý không có tên hộ ông Lê Văn Huy, năm 1993 được UBND xã Tĩnh Hải giao cho các hộ nuôi trồng thủy sản theo Quyết định 327/CP ngày 15/9/1992, của Chính phủ, từ năm 1993 đến nay gia đình ông Huy không sử dụng đất tại khu vực nêu trên"

         6. Kháng cáo chi tiết nhận định bản án:

    - HĐXX nhận định đất đê đạo, đê Hoàng Hóa, đê Làng và Hón Tre do thôn Liên Vinh, xã Tĩnh Hải quản lý là phù hợp với quy định, nhưng HĐXX không truy vấn vi phạm của UBND huyện về việc người sử dụng đất trong sổ thuế nông nghiệp là ông Lê Văn Huy nhưng hồ sơ quản lý đất đai lại ghi người sử dụng đất là UBND xã. Với các chứng cứ là sổ thuế nông nghiệp, giấy có xác nhận của chủ tịch UBND xã trên diện tích tự khai 3 héc ta và giao đất thầu ngày 28/8/1994 và kết quả xác minh của Thanh Tra huyện Tĩnh Gia ngày 26/9/1996 của gia đình tôi đã mâu thuẫn với nhận định của HĐXX đó là lý do bản án không khách quan.

    - Căn cứ BL227; BL 281-282-283-284-285-286 là hồ sơ giao thầu đất thì việc HĐXX khẳng định giao đất 327 cho các hộ là sai. Việc gia đình tôi không sử dụng đất là do UBND xã chiếm, cản trở thực hiện quyền sử dụng đất. Theo hồ sơ quản lý đất của xã giao nộp cho tòa án thì các thời kỳ đều ghi chủ sử dụng là UBND xã là hoàn toàn phù hợp với việc gia đình tôi khiếu kiện về việc UBND xã chiếm đoạt đất của gia đình tôi. HĐXX khẳng định, năm 1993 được UBND xã Tĩnh Hải giao cho các hộ nuôi trồng thủy sản theo Quyết định 327/CP ngày 15/9/1992, của Chính phủ. Nhận định này mâu thuẫn với đất nông nghiệp canh tác có hiệu quả theo sổ thuế nông nghiệp, giấy giao thầu, thì rõ ràng 8 hộ là người tiêu thụ đất chiếm đoạt của UBND xã đó là:

         + Thứ nhất: Dự án 327 chỉ thực hiện trên đất hoang, đã mâu thuấn với Sổ thuế nông nghiệp của gia đình tôi hoàn thành nghĩa vụ thuế đến vụ 10 năm 1993 thể hiện đất canh tác có hiệu quả. Do vậy việc giao đất dự án 327, cho của gia đình tôi cho các hộ vào năm 1993 là không có căn cứ.

         + Thứ hai: Căn cứ giấy giao thầu cho ông Lê Văn Vũ; ông Lê Văn Hùng; ông Lê Văn Bụt (chuyển nhượng cho Lê Năng Nguyễn) tại các BL227; BL 281-282-283-284-285-286 thì khẳng định việc lấy đất của ông Huy giao thầu thu tiền hàng năm, có thời hạn rồi làm giả hồ sơ ban hành quyết định 8745 bồi thường hỗ trợ cho các hộ theo dự án 327 là trái pháp luật.

         + Thứ ba: Trong hồ sơ vụ án các Văn bản của UBND xã; UBND huyện; UBND tỉnh GQKN cho các hộ (có 8 hộ) đều khẳng định, các hộ đòi đất dự án 327 là không có cơ sở.

         Như vậy việc HĐXX nhận định 8 hộ có tên trong QĐ 8745 trùng trên đất của gia đình tôi được giao đất theo dự án 327 là không có căn cứ và mâu thuẫn với tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án mà nguyên đơn và bị đơn giao nộp. HĐXX không làm rõ việc đánh tráo khái niệm của UBND huyện Tĩnh Gia. Đó là việc tôi đòi trả đất chiếm đoạt không trả đánh tráo thành gia đình tôi không sử dụng, bởi việc bỏ đất không sử dụng và đất bị chiếm không được sử dụng là hoàn toàn khác nhau.

          HĐXX nhận định: "Đối với "Sổ thuế nông nghiệp" mang tên Hoàng Huy (theo ông Vũ sổ này lập năm 1992) không phải là giấy tờ về đất theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013, bản thân ông Lê Minh Vũ ngày 21/8/1994 đã có "Đơn xin nhận thầu đê" tại khu vực Hón Tre được Chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải duyệt cho nhận thầu 5-6 sào (tương đương 2.355m2), năm 1994 ông Vũ đã nộp số tiền 400.000đ để thầu nuôi tôm là có thật nhưng chưa được nhận đất (BL58). Tại Quyết định GQKN số 01/QĐ TT TG ngày 26/9/1996 đã giải quyết "... Việc khiếu nại bồi thường công khai hoang là không đúng, Ủy ban nhân dân xã Tĩnh Hải phải thanh toán tiền chặt cây và tiền đấu thầu nuôi tôm cho gia đình ông Huy vì ông có nguyện vọng rút lại số tiền đó" (BL10). Như vậy từ năm 1995 ông Lê Văn Huy không yêu cầu đòi đất mà chỉ khiếu nại yêu cầu công khai hoang."

      7. Kháng cáo chi tiết nhận định bản án:

         - HĐXX khẳng định" Sổ thuế nông nghiệp không phải là giấy tờ về đất theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013", thể hiện HĐXX không đánh giá chứng cứ. Trước luật đất đai 1993, trong khoán 10 năm 1987 Sổ thuế nông nghiệp quy định về việc phản ánh đất quy chủ cho nông hộ là bằng chứng về việc nhà nước công nhận quyền sở hữu về đất cho hộ gia đình, cá nhân. Tổng cục thuế, Bộ tài chính phát hành sổ quy định:

    "Sổ thuế nông nghiệp phản ánh toàn bộ diện tích ruộng đất quy chủ cho nông hộ quản lý sử dụng, căn cứ tính thuế và tính sổ thuế phải nộp theo pháp lệnh. Căn cứ ghi chép sổ gồm: Tờ khai diện tích đất trồng cây hàng năm (Mẫu 3A/TNN) và tờ khai diện tích đất trồng cây lâu năm (Mẫu 3B/TNN). Sổ giao khoán nhận thầu ruộng đất của HTX và xã. Giấy chứng nhận sử dụng ruộng đất của nông hộ. Tài liệu về định sản lượng khoán, định hạng đất hoặc sản lượng (giá trị sản lượng) tính thuế của xã. Định Suất thuế đối với hạng đất, thuế suất (%) đối với từng loại cây trồng tính theo Pháp lệnh thuế nông nghiệp. Tài liệu tính phân bổ trên diện tích chung như đất giao thông thủy lợi nội đồng... Sổ thuế do chủ hộ quản lý. Sổ thuế được xác định số sổ của từng hộ ghi vào ô chữ nhật ở bìa sổ. Số của sổ đúng với số thứ tự của hộ trong sổ bộ thuế NN của xã để tiện việc theo dõi quản lý. Sổ thuế nông nghiệp của hộ do cán bộ thuế NN xã, phường ghi không ai được tự ý ghi chép hoặc tẩy xóa. Nếu chủ hộ thấy có sai sót thì báo cáo cho cán bộ thuế xã kiểm tra điều chỉnh. Sau khi điều chỉnh cán bộ thuế phải ký xác nhận và ghi rõ họ tên vào sổ. Nông hộ đến nộp thuế phải mang theo sổ...".

         Theo quy định tại thời điểm cấp sổ thì, Sổ thuế nông nghiệp giao đất đến từng hộ gia đình cá nhân trong khoán 10 năm 1987 có giá trị pháp lý về quyền sở hữu cho chủ sử dụng đất, giá trị pháp lý cao hơn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai 1993 là vì: Sổ thuế nông nghiệp phản ánh đất quy chủ cho nông hộ quản lý, sử dụng. Như vậy Sổ nông nghiệp đủ điều kiện được phép thay thế: Tờ khai, Sổ giao khoán, Giấy chứng nhận sử dụng ruông đất, Tài liệu về định sản lượng, Định suất thuế thực hiện theo pháp lệnh. Trong khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện hành nhà nước đại diện chủ sở hữu, người dân chỉ được quyền sử dụng.

     HĐXX cho rằng "Sổ thuế nông nghiệp" mang tên Hoàng Huy (theo ông Vũ sổ này lập năm 1992) không phải là giấy tờ về đất theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013 là sai bởi sổ thuế nông nghiệp đủ điều kiện đại diện cho các loại giấy tờ về đất theo khoán 10 năm 1987 và là căn cứ xác định chủ sử dụng đất.

         - HĐXX nhận định: ông Lê Minh Vũ được Chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải duyệt cho nhận thầu 5-6 sào (tương đương 2.355m2), năm 1994 ông Vũ đã nộp số tiền 400.000đ để thầu nuôi tôm là có thật nhưng chưa được nhận đất (BL58). Rõ ràng HĐXX không hề đánh giá xem xét chứng cứ, phát quyết theo cảm thích là vì: Theo nguồn chứng cứ thanh tra huyện Tĩnh Gia xác minh tại quyết định 01/QĐ-TTTG ngày 26/9/1996 kết luận: "Xã đã giao cho gia đình ông Huy (tức là ông Vũ) 2355m2 đất đấu thầu nhưng bị người khác chiếm". Nhưng thanh tra huyện lại yêu cầu UBND xã trả tiền, rõ ràng người khác chiếm đất của tôi chính là UBND xã, bởi chỉ có người chiếm đất mới phải trả tiền. Do vậy HĐXX khẳng định tôi chưa được giao đất là HĐXX không đánh giá chứng cứ.

         - Ông Lê Văn Huy không đòi công khai hoang, mà là đòi đất. Để chứng minh cho việc thanh tra huyện Tĩnh Gia, xác minh sơ sài thiếu, trách nhiệm, sai đối tượng khiếu nại, không đúng nội dung đơn có căn cứ đó là: Hồ sơ ông Vũ thầu đất, đòi đất nhưng lại xác minh là ông Huy đòi đất. Kết luận đất của thầu của ông Huy bị người khác chiếm nhưng yêu cầu UBND xã Tĩnh Hải trả tiền, công nhận xã chặt cây làm đường điện và đường giao thông, như quyết định chỉ nói rõ đến việc đền cây còn việc chiếm đất làm đường thì chỉ nói chung chung đó là "xã chặt cậy làm đường điện và đường giao thông nông thôn là có thật chưa bồi thường cho ông". UBND xã giao cho ông Vũ 6 sào là phù hợp với diện tích đất của ông Vũ mà xã chiếm giao cho ông Bụt (ông Bụt chuyển nhượng cho ông Nguyễn) theo xác minh của thanh tra thì UBND xã đã giao cho tôi 2355m2 đất là có căn cứ, nhưng bị UBND xã chiếm đoạt lại. Thanh tra không có biên bản nào làm việc với ông Huy nên việc khẳng định ông Huy đòi công khai hoang là không có cơ sở, theo đơn khiếu kiện gửi các thời kỳ thì gia đình tôi đòi đất khai hoang, không đòi bồi thường công khai hoang.

         HĐXX nhận định: "Năm 2016 thực hiện Dự án xây dựng đường Bắc Nam 2 - Khu kinh tế Nghi Sơn, căn cứ Luật đất đai 2013, căn cứ hiện trạng sử dụng đất, UBND huyện Tĩnh Gia cũng không bồi thường về đất, mà tại Quyết định 8745 chỉ phê duyệt bồi thường tài sản và chính sách hỗ trợ đối với các hộ đang trực tiếp nuôi trồng thủy sản là có căn cứ và đúng đối tượng. Hội đồng xét xử sơ thẩm không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn Huy hủy Quyết định phê duyệt bồi thường của UBND huyện Tĩnh Gia."

     

     

    8. Kháng cáo chi tiết nhận định bản án:

    - Nhận định này của HĐXX đối chiếu với quyết định 8745 không bồi thường về đất là mâu thuẫn bởi BL153 có bồi thường về đất, điều này thể hiện UBND huyện Tĩnh Gia đã làm giả hồ sơ bồi thường chiếm đoạt tài sản. Là lợi dụng chức vụ quyền hạn, cố ý làm trái quy định, do HĐXX không đánh giá chứng cứ, xét xử vắng mặt người bị kiện và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đó là nguyên nhân HĐXX không chấp nhận yêu cầu hủy quyết định 8745.

         - Quyết định 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 không bồi thường về đất cho 8 hộ, nhưng BL153 Bảng tổng hợp dự toán bồi thường của UBND huyện Tĩnh Gia lại có bồi thường đất đai cho 8 hộ trùng đất gia đình tôi là mâu thuẫn, đối lập. Là phạm tội: làm giả hồ sơ, tham ô tài sản, lợi dụng chức vụ quyền hạn, cố ý làm trái quy định của nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng, và lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do HĐXX HC-ST không đánh giá chứng cứ, chỉ căn cứ lời khai của UBND huyện Tĩnh Gia khẳng định: "UBND huyện Tĩnh Gia cũng không bồi thường về đất, mà tại Quyết định 8745 chỉ phê duyệt bồi thường tài sản và chính sách hỗ trợ đối với các hộ đang trực tiếp nuôi trồng thủy sản là có căn cứ và đúng đối tượng" là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và nguy hiểm hơn đó là dấu hiệu bỏ lọt tội phạm và xâm phạm hoạt động tư pháp.

         HĐXX nhận định: "Về yêu cầu UBND xã Tĩnh Hải bồi thường do hành vi thu hồi đất trái pháp luật từ năm 1993-1995 là không có cơ sở và đã hết thời hiệu khởi kiện; đối với yêu cầu UBND xã Tĩnh Hải bồi thường tiền chặt cây của gia đình từ tháng 1/1995 và số tiền 400.000đ đã nộp để đấu thầu đất nuôi tôm từ năm 1994, ông Huy có quyền khởi kiện trong vụ án dân sự khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự."

         9. Kháng cáo chi tiết nhận định bản án:

    - HĐXX khẳng định tôi yêu cầu UBND xã Tĩnh Hải bồi thường đất do hành vi thu hồi là không đúng bởi vì: Đơn khiếu kiện tôi không đòi UBND xã bồi thường, mà là đòi UBND xã trả lại đất chiếm đoạt. Tôi không khởi kiện vụ án hành chính đối với hành vi thu hồi đất trái pháp luật nên HĐXX căn cứ thời hiệu Luật TTHC quy định để bác yêu cầu đòi tài sản là đất quy chủ của gia đình tôi mà chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải chiếm đoạt là không đúng. Việc gia đình tôi khiếu nại đòi đất và cây trên đất bị UBND xã Tĩnh Hải chặt phá để chiếm đoạt đất làm đường điện, đường giao thông nông thôn là việc đòi tài sản là bất động sản. HĐXX đình chỉ một phần việc đòi tài sản là không khách quan bởi đất và tài sản trên đất đều là bất động sản có chủ (đất quy chủ), mà chủ sở hữu là gia đình tôi nên tài sản đó là bất khả xâm phạm và không ai có quyền chấm dứt quyền đòi tài sản khi khiếu nại kéo dài chưa giải quyết. Đối với 400.000đ tôi nộp cho UBND xã Tĩnh Hải và đã được UBND xã Tĩnh Hải giao đất là có căn cứ, do vậy việc trả lại tài sản cho tôi là QSD đất thầu chứ không phải là 400.000đ như HĐXX khẳng định.

    - Tài sản là bất động sản (đất quy chủ cho nông hộ và cây gắn liền trên đất) của gia đình tôi bị UBND xã Tĩnh Hải chiếm đoạt, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết là căn cứ điều 34 và 35 Luật TTHC. Việc HĐXX đình chỉ một phần tài sản bị chiếm đoạt là không đúng.

     

    HĐXX Quyết định: QUYẾT ĐỊNH

         Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm g khoản 1 Điều 143; khoản 1 Điều 158; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 204; khoản 1 Điều 206 Luật tố tụng hành chính

         Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 74; khoản 1 Điều 75 Luật đất đai năm 2013.

         1. Đình chỉ giải quyết một phần đơn khởi kiện của ông Lê Văn Huy về yêu cầu hủy Quyết định số 01/QĐ-TTTG ngày 26/9/1996 của Thanh tra huyện Tĩnh Gia và yêu cầu tuyên bố hành vi thu hồi đất của UBND xã Tĩnh Hải đối với gia đình ông từ năm 1993 đến năm 1995 là trái pháp luật.

         2. Bác đơn khởi kiện của ông Lê Văn Huy yêu cầu hủy Quyết định số 8745/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của Ủy ban nhân dân huyện Tĩnh Gia về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án: Đường Bắc Nam 2 - Khu kinh tế Nghi Sơn

        10. Kháng cáo Quyết định bản án:

    Theo nội dung kháng cáo chi tiết nêu trên, HĐXX đã bỏ bớt: đơn khởi kiện ban đầu; đơn sửa đổi bổ sung; chứng cứ; không xem xét đối tượng khởi kiện hành vi hành chính của UBND xã Tĩnh Hải được xác lập tại biên bản ngày 10/5/2016; không đánh giá chứng cứ; Xét xử không được đối chất làm rõ tại phiên tòa; xét xử không khách quan; thiên vị. Đó là lý do tôi làm đơn kháng cáo tòa bộ bản án số 49/2017/HC-ST ngày 12/9/2017 của Tòa án Nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kính mong Tòa án phúc thẩm, Tòa án Cấp cao tại Hà Nội xem xét hủy bản án sơ thẩm số 49/2017/HC-ST ngày 21/9/2017 của Tòa án Nhân dân tỉnh Thanh Hóa để xét xử lại từ đầu. Thay mặt gia đình tôi xin trân trọng cảm ơn

                                                                NGƯỜI LÀM ĐƠN

                                                             Đại diện theo ủy quyền

     

     

     

                                                                      Lê Minh Vũ

     

    * THÀNH VIÊN DÂN LUẬT, Tên đăng nhập CongTyGiaoDucVuTan hoặc LeMinhVuThanhHoa.

    * Kết nối trực tiếp Facebook của Công Ty Giáo Dục Vũ Tấn nhấn: https://www.facebook.com/leminhvu1967

    * Kết nối trực tiếp Facebook cá nhân nhấn: https://www.facebook.com/LeMinhVuThanhHoa/reviews?pnref=lhc hoặc 0913128167

    * Kết nối Bài viết Blog: http://leminhvuthanhhoa.blogspot.com/

    * Kết nối G+: https://plus.google.com/+minhvuLeCongTyGiaoDucVuTan_ThanhHoa/posts

     
    2190 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn congtygiaoducvutan vì bài viết hữu ích
    MayDuong (26/08/2018)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #536212   31/12/2019

    chaugiang9897
    chaugiang9897
    Top 200
    Female
    Lớp 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:06/12/2019
    Tổng số bài viết (386)
    Số điểm: 2516
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 50 lần


    Thủ tục nhận đơn đề nghị xem xét bản án của tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 329 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

    "Điều 329. Thủ tục nhận đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm

    1. Tòa án, Viện kiểm sát nhận đơn đề nghị do đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án, Viện kiểm sát hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn, cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho đương sự. Ngày gửi đơn được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Tòa án, Viện kiểm sát hoặc ngày có dấu dịch vụ bưu chính nơi gửi.

    2. Tòa án, Viện kiểm sát chỉ thụ lý đơn đề nghị khi có đủ các nội dung quy định tại Điều 328 của Bộ luật này. Trường hợp đơn đề nghị không có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 328 của Bộ luật này thì Tòa án, Viện kiểm sát yêu cầu người gửi đơn sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát; hết thời hạn này mà người gửi đơn không sửa đổi, bổ sung thì Tòa án, Viện kiểm sát trả lại đơn đề nghị, nêu rõ lý do cho đương sự và ghi chú vào sổ nhận đơn.

    3. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phân công người có trách nhiệm tiến hành nghiên cứu đơn, thông báo, kiến nghị, hồ sơ vụ án, báo cáo người có thẩm quyền kháng nghị xem xét, quyết định; trường hợp không kháng nghị thì thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có văn bản thông báo, kiến nghị.

    Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phân công Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phân công Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu đơn, thông báo, kiến nghị, hồ sơ vụ án, báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết định kháng nghị. Trường hợp không kháng nghị thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tự mình hoặc ủy quyền cho Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có văn bản thông báo, kiến nghị."

    Bên cạnh đó, thời hạn mở phiên tòa giám đốc thẩm được quy định tại Điều 399 như sau:

    Điều 339. Thời hạn mở phiên tòa giám đốc thẩm

    Trong thời hạn 04 tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở phiên tòa để xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm."

     
    Báo quản trị |  
  • #539459   27/02/2020

    linhtrang123456
    linhtrang123456
    Top 50
    Lớp 6

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/12/2017
    Tổng số bài viết (1234)
    Số điểm: 8030
    Cảm ơn: 11
    Được cảm ơn 162 lần


    Trước tiên xem xét có trường hợp kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm theo Điều 326 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 hay không? Nếu như thuộc trường hợp thì làm đơn theo Điều 328. Về thời hạn mở phiên tòa là 04 tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở phiên tòa để xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm chị nhé

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn linhtrang123456 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (28/02/2020)