Chào andela!
Vụ án xảy ra từ năm 1997 (chưa có BLTTDS) nên việc giải quyết về mặt thủ tục được áp dụng theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Tuy nhiên Pháp lệnh này chỉ quy định việc định giá tài sản có tranh chấp là một trong những hoạt động điều tra của Toà án (điểm đ khoản 1 điều 38) mà không liệt kê cụ thể các trường hợp phải tiến hành định giá tài sản. Do vậy việc định giá tài sản được các Toà án địa phương tiến hành theo các công văn hướng dẫn nghiệp vụ của Toà án nhân dân Tối cao. Cụ thể như Kết luận của Chánh án TANDTC tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1995; Công văn số 36/1998/KHXX ngày 14/4/1998; mục 8, mục 9 phần IV Công văn số 16/1999/KHXX ngày 01/02/1999... Theo đó thì trong trường hợp bạn nêu, bên phải là người nộp tiền tạm ứng chi phí định giá, còn nghĩa vụ nộp tiền chi phí định giá thuộc về bên nào thì tuỳ thuộc vào kết quả xét xử.
Việc bên A đòi định giá khu đất thứ 2 của bên B là không có căn cứ. Bởi theo điểm đ khoản 1 điều 38 Pháp lệnh trên thì Toà án chỉ định giá tài sản có tranh chấp. Khu đất này không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án theo đơn khởi kiện của bên A, không liên quan đến việc giải quyết vụ án nên Toà án sẽ không chấp nhận yêu cầu định giá, kể cả bên B đồng ý.
Tôi cũng không thể hiểu được vì sao vụ án này lại bị chìm vào quên lãng đến 13 năm trời, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Chỉ có thể suy đoán theo hai hướng sau:
- Thư nhất: vụ án đã được Tạm đình chỉ theo điểm b khoản 1 điều 45 Pháp lệnh (đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại điều 47 của Pháp lệnh này mà một trong các đương sự không thể có mặt vì bị ốm nặng hoặc có lý do chính đáng khác). Nhưng vì lý do nào đó mà toà án đã quên không gửi quyết định cho các bên, và cũng lãng quên luôn không tiếp tục tiến hành giải quyết vụ án khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn (khoản 2 điều 45 Pháp lệnh).
- Thứ hai: vụ án đã được đình chỉ theo khoản 2 hoặc khoản 3 điều 46 Pháp lệnh (người khởi kiện rút đơn khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng); hoặc bị đinh chỉ theo khoản 2, khoản 3 điều 36 Pháp lệnh (thời hiệu khởi kiện đã hết hoặc sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án). Và cũng vì lý do gì đó mà Toà án quên không gửi quyết định này cho các bên đương sự.
Bản thân tôi thì nghiêng về thiên hướng Toà án đã ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án theo khoản 3 điều 36 Pháp lệnh.
- Việc của bên B phải làm bây giờ là trực tiếp đến Toà án đã thụ lý giải quyết vụ án để hỏi xem vụ án đã giải quyết như thế nào. Nếu Toà án đã ra một trong các quyết định như tôi đã nêu thì yêu cầu họ cung cấp cho mình quyết định đó.
- Nếu đó là quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì mang nó nộp cho cơ quan có thẩm quyền để làm căn cứ thực hiện các quyền lợi của mình đối với khu đất.
- Nếu đó là quyết định tạm đình chỉ thì làm đơn yêu cầu Toà án tiếp tục đưa vụ án ra giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho mình.
- Ngoài ra, nếu đúng như suy đoán của tôi, thì bên B có quyền làm đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra theo điều 620 BLDS nếu từ thời điểm đó đến nay, họ thường xuyên có khiếu nại, kiến nghị hoặc thắc mắc về việc giải quyết vụ án này. Còn nếu ngược lại thì bên B mất quyền khởi kiện này theo điều 607 BLDS.
Hơi dài dòng bạn nhỉ? Nhưng hy vọng bạn hiểu được những vấn đề tôi nêu ra và có thể giúp ích được cho bạn và bên B.
Thân ái!
Hãy làm tất cả những gì trong phạm vi cho phép và khả năng có thể!