TH1:
sau khi lấy 4 tờ 500.000 A lấy trong túi của mình ra 1 tờ 200.000đ để lại nơi đã lấy 4 tờ 500.000 đó
- Giá trị tài sản mà A chiếm đoạt là 2.000.000 - 200.000 = 1.800.000 đồng.
+ Giá trị tài sản chiếm đoạt chưa đến mức quy định phải chịu TNHS (< 2 triệu) + Không gây ra hậu quả nghiêm trọng =>
A bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt +Giá trị tài sản chiếm đoạt chưa đến mức quy định phải chịu TNHS (< 2 triệu) + gây ra hậu quả nghiêm trọng =>A phải chịu TNHS theo quy định tại
khoản 1, ĐIều 138 BLHS 1999, Tội trộm cắp tài sản +Giá trị tài sản chiếm đoạt chưa đến mức quy định phải chịu TNHS (< 2 triệu) + A đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt (bị kết án về tội chiếm đoạt nhưng chưa được xóa án tích) => A phải chịu TNHS theo quy định tại
khoản 1, ĐIều 138 BLHS 1999, Tội trộm cắp tài sản +Giá trị tài sản chiếm đoạt chưa đến mức quy định phải chịu TNHS (< 2 triệu) + A đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt (bị kết án về tội chiếm đoạt nhưng chưa được xóa án tích) + gây ra hậu quả nghiêm trọng => A phải chịu TNHS theo quy định tại
điểm g, khoản 2, ĐIều 138 BLHS 1999, Tội trộm cắp tài sản +Giá trị tài sản chiếm đoạt chưa đến mức quy định phải chịu TNHS (< 2 triệu) + A đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt (bị kết án về tội chiếm đoạt nhưng chưa được xóa án tích) + gây ra hậu quả
rất nghiêm trọng => A phải chịu TNHS theo quy định tại
điểm b, khoản 3, ĐIều 138 BLHS 1999, Tội trộm cắp tài sản +Giá trị tài sản chiếm đoạt chưa đến mức quy định phải chịu TNHS (< 2 triệu) + A đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt (bị kết án về tội chiếm đoạt nhưng chưa được xóa án tích) + gây ra hậu quả
đặc biệt nghiêm trọng => A phải chịu TNHS theo quy định tại
điểm b, khoản 4, ĐIều 138 BLHS 1999, Tội trộm cắp tài sản -B bị truy cứu TNHS theo
điểm d, khoản 2, Điều 133, Tội cướp tài sản. Theo tôi, tuy rằng không quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt, nhưng có thể hiểu giá trị tài sản trong khoảng 50 triệu trở lại, bởi với giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đã trở thành tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại
khoản 2, ĐIều 133, Tội cướp tài sản. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt chỉ có ý nghĩa để HĐXX xem xét mức hình phạt đối với tội phạm là mức cao nhất của khung (7 năm) hay mức thấp nhất của khung (15 năm), và tất nhiên còn tùy thuộc vào tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng khác.
TH2.
trong 4 tờ 500.000 đó có 1 tờ là tờ tiền giả. => Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.000.000 - 200.000 - 500.000 = 1.300.000 đ.
- ĐỊnh tội A, B
+Định tội A theo TH 1.
+Định tội B theo TH 1 (giá trị tài sản B chiếm đoạt có thể là 500.000 cũng có thể là 1.000.000)
-
Điều 180, BLHS 1999, Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả + A, B không phải chịu TNHS về tội quy định tại Điều 180, BLHS bởi không có căn cứ nào chứng minh được rằng A, B biết đó là tiền giả khi thực hiện hành vi phạm tội. Thủ đoạn làm tiền giả của bọn tội phạm ngày nay càng ngày càng tinh vi, với một số loại, bằng những biện pháp thông thường khó mà xác định được. Nếu như A, B dùng tờ tiền đó trong giao dịch hàng ngày mà bị phát hiện, sẽ có nghĩa vụ khai báo nguồn gốc tờ tiền đó. Nếu như, A hoặc B sau khi dùng tờ tiền giả đó để giao dịch, lần đầu có thể được miễn truy cứu, tuy nhiên, đến làn giao dịch khác, tiếp tục sử dụng tờ tiền giả đó (lúc này đã biết đây là tiền giả) và có bằng chứng chứng minh A, B đã từng sử dụng tờ tiền giả đó để giao dịch nhưng không thành thì sẽ bị truy cứu TNHS theo
khoản 1, ĐIều 180 với
hành vi tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả.
+Đối với C, theo tôi cũng không phải chịu TNHS về tội quy định tại Điều 180, bởi trong số tiền của C chỉ có duy nhất một tờ là giả cũng không thể nói lên điều gì, trừ phi rằng tìm được một số lượng lớn tiền giả khác trong nhà C . C cũng có nghĩa vụ khai báo với cơ quan điều tra về nguồn gốc tờ tiền đó.
TH3:4 tờ tiền đó là tiền giả -ĐỊnh tội A, B, N
+ A bị xử phạt vi phạm hành chính vì tài sản chiếm đoạt có giá trị bằng 0.
+ B bị truy cứu TNHS theo
điểm d, khoản 2, Điều 133, Tội cướp tài sản (giá trị tài sản chiếm đoạt bằng 0), do đó có thể chịu hình phạt ở mức thấp nhất của khung (7 năm), trường hợp không có tình tiết giảm nhẹ hay tăng nặng nào khác.
-
Điều 180, BLHS 1999, Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả +Trong tình huống này, A và B mỗi người đều sở hữu hai tờ tiền giả và t��ng giá trị tiền giả của mỗi người là một triệu đồng. A, B cũng không phải chịu TNHS về tội quy định tại ĐIều180, BLHS nếu ngay sau đó, hành vi phạm tội của họ bị phát giác, tang vật bị thu hồi. Tương tự như trường hợp trên, nếu có bằng chứng chứng minh rằng, A, B cố tình (khi biết đó là tiền giả) sử dụng tiền giả sau đó, cũng sẽ bị truy cứu TNHS theo
khoản 1, ĐIều 180 với
hành vi tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả.
+Đối với C, việc có đến 4 tờ tiền giả là điều không bình thường. Nếu không chứng minh được nguồn gốc số tiền giả đó, C sẽ bị truy cứu TNHS theo
khoản 1, ĐIều 180 với
hành vi tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả.
*Note:
-Đối với tội liên quan đến tiền giả quy định tại điều 180, BLHS 1999, mọi người cùng nghiên cứu chi tiêt hướng dẫn về số lượng tiền giả để định tội tại
Nghị quyết số02/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS theo link:
http://www.luatsurieng.net/van-ban-phap-luat/noi-dung-van-ban/nghi-quyet-02-2003-nqhdtp-hd-thi-hanh-blhs-1999-69/ Nghị quyết số02/2003/NQ-HĐTP viết:3.1. Đối với tội làm tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (sau đây gọi chung là tiền giả):
a. Nếu tiền giả có trị giá tương ứng dưới ba triệu đồng tiền Việt Nam thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 180 Bộ luật Hình sự;
...................................................................
3.2. Đối với tội tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (sau đây gọi chung là tiền giả):
a. Nếu tiền giả có trị giá tương ứng dưới mười triệu đồng tiền Việt Nam thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 180 Bộ luật Hình sự;
-Bạn
Cobebandao945 thường hay "găm" nhiều câu hỏi đằng sau. Vì vậy, nếu đã có quan điểm riêng của mình thì đưa luôn ý kiến, rồi đến thắc mắc chính, như vậy những người cùng thảo luận khác sẽ đỡ tốn công phải trình bày lại những nội dung mà người yêu cầu đã nắm rõ. Cuối cùng thành ra "vừa thừa vừa thiếu".
Bởi một người chỉ "hỏi nhờ giải đáp" khi người ta không có kiến thức về nó, còn khi "thảo luận" tức là về cơ bản đã hiểu vấn đề đưa ra thì nên trình bày quan điểm của mình trước !
Cập nhật bởi Im_lawyerx0 ngày 25/04/2011 05:28:15 CH
Cập nhật bởi Im_lawyerx0 ngày 25/04/2011 12:03:02 CH
Cập nhật bởi Im_lawyerx0 ngày 25/04/2011 11:35:02 SA
Đời người ngắn hay dài há do ý muốn. Đã biết như thế mà còn tham sống, há không phải là u mê. Đã biết như thế, mà còn sợ chết há không phải là tuổi trẻ lưu lạc tha hương đến nỗi quên cả đường về. Đã biết như thế người chết đi có khi lại hối hận là từng tham sống cũng nên - Trang Tử
Dịch nghĩa:
Sống chắc gì đã sướng mà chết chắc gì đã khổ. Sống chết thật ra không khác nhau bao nhiêu. Con người ta khi sống chẳng qua là một giấc mộng lớn. Khi chết đi chính là tỉnh mộng. Không chừng sau khi chết, lại thấy rằng trước đó mình cứ ham sống thật là ngu xuẩn. Sao không chết sớm hơn. Hệt như sau khi chúng ta trải qua một cơn ác mộng đáng sợ, tỉnh lại cảm thấy giấc mộng vừa qua thật quá dài.