HỌP MẶT OFFLINE DÂN LUẬT MIỀN NAM NGÀY 20/12/2014
  • Trang nhất
  • Luật Sư Tư Vấn
  • Cùng Thảo Luận
  • Tìm Luật Sư
  • Thành Viên
  • Trang Của Tôi
  • Bản án online

Đất đai: về ở và cất nhà từ trước 1993 nhưng vẫn có tranh chấp!

Chủ đề   RSS   
  • #185 30/07/2008

    vclong2008
    Top 500
    Lớp 2

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (124)
    Số điểm: 3327
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 4 lần


    Đất đai: về ở và cất nhà từ trước 1993 nhưng vẫn có tranh chấp!

    Năm 1977, tôi phụ giúp sửa chữa xe máy ở nhà bác ruột là D­ong Thị Kim, hồi đó bác tôi xây dựng nhà cấp 4 còn xung quanh là đất trống, hoang vắng vô cùng.

    Năm 1983, tôi lấy vợ và vẫn giúp việc sửa chữa xe máy ở đó nên bà Kim động viên, bảo vợ chồng tôi xuống khu đất sát đó ở cho bớt hoang vắng, tăng thêm an ninh (thời điểm này chỉ có 2 nhà ở đó là bà Minh và ông Quý). Vợ chồng tôi đã khai hoang phục hoá, dựng hai gian nhà vách đất, mái lá, liền đ­ường quốc lộ và sát nhà bà Kim.

    Năm 1993, vợ chồng tôi cải tạo làm nhà cấp 4 và công trình phụ trên nền đất cũ, diện tích đất khoảng 90m2 , gia đình ba Kim vẫn ở sát bên cạnh. Gia đình tôi ở và sử dụng ổn định từ đó đến nay, không biến đổi gì, đ­ược UBND ph­ưởng, Tổ trưởng dân phố và đông đảo nhân dân khu phố xác nhận.

    Năm 1986, bà Kim mất, Bà Liên (con ba Kim) và ông Hà (chồng bà Liên) tiếp tục sử dụng nhà đất do bà Kim để lại.

    Năm 1997, Xí nghiệp trắc địa 103 đo vẽ bản đồ hiện trạng có thể hiện vị trí 2 nhà (đó là hiện trạng nhà tôi và nhà bà Kim), nh­ng không tách thửa đất (chung một thửa số 26, tờ bản đồ số 45, diện tích 950,2m2) - đây là sai sót của những người đo vẽ mà tôi không hề đ­ược biết.

    Điều này đ­ược UBND ph­ường Hùng V­ương- cơ quan có trách nhiệm quản lý đất đai ở địa ph­ương- khẳng định nh­ư vậy (BL 93- Biên bản xác minh ngày 24/3/2006, BL 96- Biên bản xác minh ngày 29/5/2006)

    Năm 2004, do giá đất tăng đột biến, sẵn có lòng tham và dựa vào bản đồ đo vẽ có sai sót, gia đình bà Liên kê khai toàn bộ diện tích 950,2m2 của thửa số 26 (trong đó bao gồm cả diện tích nhà của vợ chồng tôi) để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ ở, nh­ưng không được Hội đồng xét duyệt của UBND phường chấp nhận. Bà Liên làm đơn gửi UBND thị xã Phúc Yên đề nghị giải quyết đòi đất của gia đình tôi đang sử dụng với lý do đất đó là do vợ chồng bà Liên, ông Hà cho vợ chồng tôi m­ượn.

    Tôi không biết phải làm thế nào? Nếu ra Tòa liệu tôi có thắng ko?

     

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #186   30/07/2008

    LS_NguyenThiMinhHieu
    LS_NguyenThiMinhHieu
    Top 500
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:07/05/2008
    Tổng số bài viết (133)
    Số điểm: 679
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 13 lần


    Tôi xin trả lời như sau: chỉ nghe ông kể  thì  l/s cũng không hiểu rõ sự việc,  biết rằng gia đình bà  Liên chưa được cấp quyền sử dụng đất bà Liên đã làm giấy đề nghị cấp  GCNQSDD  nhưng ủy ban phường chưa giải quyết  vì có tranh chấp,

    Về phía bà Liên cho rằng số đất  hiện gia đình ông đang ở là gia đình bà Liên cho vợ chồng ông mượn, bà Liên muốn thắng thì phải có chứng cứ chứng minh được đất đó là của bà  ấy  và đang cho ông mượn.

    Ngược lại  nếu  anh/ chị muốn thắng kiện phải có  đủ chứng cứ chứng minh rằng tài sản đó của mình.  Nếu bà Liên không chứng minh được thì bà Liên thua kiện.

     
    Báo quản trị |  
  • #193   01/08/2008

    vclong2008
    vclong2008
    Top 500
    Lớp 2

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (124)
    Số điểm: 3327
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 4 lần



    Kính nhờ Luật sư Nguyễn Thị Minh Hiếu

    Tôi đã gửi đơn KN đến TANDTC 2 năm nay rồi nhưng không được giải quyết, liệu tôi có bị cưỡng chế tháo dỡ nhà không? Tôi phải làm thế nào? Luật sư có thể giúp tôi không?

    (Tôi xin gửi nội dung lá đơn tôi viết khiếu nại để Luật sư có thể thấy nội dung sự việc trước)  

    Từ năm 1977, tôi phụ giúp sửa chữa xe máy ở nhà bác ruột là D­ơng Thị Kim (tức cụ Minh- mẹ đẻ của bà Phan Thị Liên). Năm 1983, tôi lấy vợ và vẫn giúp việc sửa chữa xe máy ở đó nên bà Minh động viên, bảo vợ chồng tôi xuống khu đất sát đó ở cho bớt hoang vắng, tăng thêm an ninh (thời điểm này chỉ có 2 nhà ở đó là bà Minh và ông Quý).

    Vợ chồng tôi đã khai hoang phục hoá, đổ đất lấp nền, dựng hai gian nhà vách đất, mái lá, liền đ­ờng quốc lộ và sát nhà bà Minh. Sau đó, vợ chồng tôi đã đổ thêm đất lấp nền ra phía trái nhà làm công trình phụ. Năm 1993, vợ chồng tôi dỡ bỏ hai gian nhà lá, làm nhà cấp 4 và công trình phụ trên nền đất cũ, diện tích đất khoảng 90m2.

    Gia đình chúng tôi ở và sử dụng ổn định từ đó đến nay, không biến đổi gì, đư­ợc UBND phư­ờng, Tổ trư­ởng dân phố và đông đảo nhân dân khu phố xác nhận.

    Năm 1986, bà Minh mất. Bà Liên và ông Hà (chồng bà Liên) tiếp tục sử dụng nhà đất do bà Minh để lại. Đến năm 1997, Xí nghiệp trắc địa 103 đo vẽ bản đồ hiện trạng có thể hiện vị trí 2 nhà (đó là hiện trạng nhà tôi và nhà bà Liên), như­ng không tách thửa đất (chung một thửa số 26, tờ bản đồ số 45, diện tích 950,2m2) - đây là sai sót của những người đo vẽ mà tôi không hề đ­ược biết. Điều này được UBND ph­ường Hùng V­ương- cơ quan có trách nhiệm quản lý đất đai ở địa phương- khẳng định như­ vậy (BL 93- Biên bản xác minh ngày 24/3/2006, BL 96- Biên bản xác minh ngày 29/5/2006).

    Năm 2004, do giá đất tăng đột biến, sẵn có lòng tham và dựa vào bản đồ đo vẽ có sai sót, gia đình bà Liên kê khai toàn bộ diện tích 950,2m2 của thửa số 26 (trong đó bao gồm cả diện tích nhà của vợ chồng tôi) để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ ở, nh­ưng không đ­ược Hội đồng xét duyệt của UBND ph­ường Hùng Vương chấp nhận. Ông Hà, bà Liên làm đơn gửi UBND thị xã Phúc Yên đề nghị giải quyết đòi đất của gia đình tôi đang sử dụng với lý do đất đó là do vợ chồng bà Liên, ông Hà cho vợ chồng tôi mượn.

    Thanh tra thị xã Phúc Yên sau khi kiểm tra xác minh kết luận:“ch­ưa có đủ cơ sở, căn cứ để giải quyết đề nghị của ông Đinh Kim Hà, yêu cầu hai gia đình giữ nguyên hiện trạng” (Kết luận số 19/KL-TTr ngày 06/12/2004)

    Vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND thị xã Phúc Yên và đang trong quá trình giải quyết (chưa có Quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND thị xã Phúc Yên), nh­ng bà Phan Thị Liên lại khởi kiện tôi tại TAND thị xã Phúc Yên.

    Ngày 10/10/2005, TAND thị xã Phúc Yên thụ lý vụ án số 24/DSST. Tuy nhiên sau khi xem xét chứng cứ, TAND thị xã Phúc Yên xác định không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án và ra Quyết định số 10/QĐĐC ngày 22/11/2005 đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

    I. Quyết định phúc thẩm số 01/2006/DSPT ngày 19/01/2006

     Ngày 19/01/2006, Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Quyết định phúc thẩm số 01/2006/DSPT tuyên "huỷ quyết định số 10/QĐ-ĐC ngày 22/12/2005 của Toà án nhân dân thị xã Phúc Yên về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; giao hồ sơ cho Toà án nhân dân thị xã Phúc Yên tiếp tục giải quyết" với lý do: “Bà Phan Thị Liên cùng ông Đinh Kim Hà kiện đòi lại một phần đất cho ông D­ương Văn Giang m­ượn. Bà Liên xuất trình chứng cứ chứng minh đất đang tranh chấp đã có một trong các loại giấy tờ đ­ược qui định tại khoản 1, 2, 5 điều 50 của Lut đất đai năm 2003 (BL 08, 09). Do vậy cần xác định quan hệ pháp lut đang tranh chấp thuc thẩm quyền giải quyết của Toà án, đ­ược qui định tại khoản 7 điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 điều 136 Luật đất đai năm 2003.”

    Tôi thấy rằng, Quyết định phúc thẩm này thể hiện sự không khách quan, vi phạm tố tụng nghiêm trọng và áp dụng sai pháp luật. Đó là:

    1. Vi phạm tố tụng nghiêm trọng

    Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự qui định thủ tục phúc thẩm đối với quyết định của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo phải có phiên họp phúc thẩm. Về thành phần, cách thức tiến hành và trình tự của phiên họp đ­ược qui định rất cụ thể: "Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị tr­ớc khi Hội đồng phúc thẩm ra quyết định". (Khoản 4 Điều 280 BLTTDS)

    Như­ng thực tế, Quyết định phúc thẩm số 01/2006/DSPT ngày 19/01/2006 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc đã được ban hành tr­ước khi lập Biên bản phiên họp phúc thẩm. Điều đó thể hiện ở chỗ: Biên bản nghị án (BL 48), Quyết định phúc thẩm số 01/2006DSPT (BL 47) đều đ­ược thực hiện ngày 19/01/2006, như­ng đến ngày 20/01/2006 (sau 01 ngày) mới có Biên bản phiên họp (BL 49 đến 52).

    Rõ ràng ở đây không hề có phiên họp phúc thẩm mà việc lập Biên bản phiên họp phúc thẩm ngày 20/01/2006 chỉ là sự tạo dựng hồ sơ, nhằm bổ sung trình tự thủ tục tố tụng đã bị bỏ qua (?). Đây là sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng để thiên vị cho nguyên đơn. Hành động này là tiền đề cho hàng loạt các vi phạm tố tụng nghiêm trọng cũng như­ các sai phạm khác sau này của TAND tỉnh Vĩnh Phúc.

    2. áp dụng sai pháp luật

    Cái đ­ược gọi là chứng cứ do bà Phan Thị Liên cung cấp để TAND tỉnh Vĩnh Phúc căn cứ xác định thẩm quyền giải quyết việc tranh chấp là: Trích lục bản đồ địa chính (BL 08) và Kết luận số 19KL/TTR ngày 06/12/2004 của Thanh tra thị xã Phúc Yên (BL 09).

    Điểm 2.3 Mục 2 Phần I Thông t­ư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi tr­ường qui định: “Sổ địa chính là sổ ghi về người sử dụng đất, các thửa đất của ng­ười đó đang sử dụng và tình trạng sử dụng đất của ng­ười đó. Sổ địa chính đ­ợc lập để quản lý việc sử dụng đất của ng­ười sử dụng đất và để tra cứu thông tin đất đai có liên quan đến từng người sử dụng đất”.

    UBND phường Hùng Vương (cơ quan Nhà nước quản lý đất đai ở địa ph­ương) hiện đang l­ưu giữ sổ sách quản lý đối với thửa đất đang tranh chấp đã trả lời bằng Văn bản số 60/HC-UBND ngày 10/11/2006:“đến thời điểm hiện nay trên địa bàn ph­ường Hùng Vương ch­ưa lập Sổ địa chính”.

    Nh­ vậy, các tài liệu trong hồ sơ vụ án không thể hiện đất đang tranh chấp đã có một trong các loại giấy tờ đ­ược qui định tại khoản 1, 2, 5 điều 50 của Luật đất đai năm 2003 như­ Quyết định phúc thẩm số 01/2006/DSPT nhận định để tự coi rằng” đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

    Từ các căn cứ nêu trên, tôi nhận thấy Quyết định phúc thẩm số 01/2006/DSPT ngày 19/01/2006 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc là không khách quan, không đúng với các qui định của pháp luật, cố tình thụ lý trái thẩm quyền, làm thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình tôi.

    II. Bản án phúc thẩm số 113/2006/DS-PT ngày 26/12/2006

    Trên cơ sở Quyết định phúc thẩm số 01/2006/DSPT ngày 19/01/2006 sai trái của TAND tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 14/8/2006, TAND thị xã Phúc Yên xét xử sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu của bà Phan Thị Liên đòi 25m2 đất mà tôi đang sử dụng, buộc tôi phải thanh toán bằng tiền cho bà là 30.000.000 đồng. (Bản án số 11/2006/DSST). Tôi kháng cáo trong thời hạn luật định.

    Thật bất ngờ, trong khi tôi không hề được triệu tập tham gia phiên toà ngày 26/12/2006, TAND tỉnh Vĩnh Phúc đã đ­a vụ án ra xét xử phúc thẩm tuyên sửa án sơ thẩm mà không cần sự có mặt của tôi (Bản án số 113/2006/DS-PT) theo hướng bất lợi hơn cho tôi so với án sơ thẩm: buộc vợ chồng tôi phải trả lại cho bà Liên 80,96m2 đất và vật kiến trúc, cây cối gắn liền; bà Liên thanh toán lại cho chúng tôi giá trị nhà, cây cối và công sức làm tăng giá trị đất là 41.062.000đồng.

    Bản án này càng biểu hiện sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thiếu khách quan, đánh giá không đầy đủ các tình tiết của vụ án và áp dụng sai pháp luật, xâm hại nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của gia đình tôi. Đó là:

    Thứ nhất: Về thẩm quyền giải quyết

    Bản án phúc thẩm số 113/2006/DS-PT ngày 26/12/2006 đã nhận ra sai sót của Quyết định phúc thẩm số 01/2006/DSPT ngày 19/01/2006 nên không viện dẫn “chứng cứ chứng minh đất đang tranh chấp đã có một trong các loại giấy tờ đ­ược qui định tại khoản 1, 2, 5 điều 50 của Luật đất đai năm 2003nữa mà khắc phục: “Năm 1987 đo vẽ bản đồ 299 thì đất của bà Liên đ­ược xác định là thửa 44, diện tích 869m2. Đo vẽ bản đồ năm 1997 là thửa 26 tờ bản đồ 45 diện tích 950,2m2 chủ sử dụng ông Đinh Kim Hà đã có tên trong sổ mục kê và sổ dã ngoại vì vậy thẩm quyền tranh chấp thuộc TAND (Khoản 1 điều 136 Luật đất đai năm 2003)”.

    Tuy nhiên, “sổ mục kê và sổ dã ngoại” cũng không phải là các giấy tờ qui định tại khoản 1, 2 và 5 điều 50 Luật đất đai năm 2003 để xác định thẩm quyền giải quyết của Toà án. Phải chăng ở đây TAND tỉnh Vĩnh Phúc đã rất lúng túng nh­ng chỉ vì muốn được xét xử vụ án này và để xét xử theo chủ quan, có lợi cho nguyên đơn nên đã bất chấp các qui định của pháp luật, gây tổn hại  tới quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình tôi.

    Thứ hai: Vi phạm tố tụng nghiêm trọng

    1. Không triệu tập ng­ười kháng cáo tham gia phiên toà

    Khoản 1 điều 264 Bộ luật tố tụng dân sự qui định: “Người kháng cáo, đ­ương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và ng­ười bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải đ­ược triu tp tham gia phiên toà”.

    Mặc dù tôi là bị đơn có kháng cáo như­ng không được triệu tập để tham gia phiên toà. Trong phần thủ tục bắt đầu phiên toà, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho tôi đã đề nghị hoãn phiên toà để kiểm tra việc không tống đạt giấy triệu tập cho tôi như­ng không chấp nhận mà không có một sự giải thích nào. Việc làm này của Hội đồng xét xử phúc thẩm đã vi phạm điều 215 Bộ luật tố tụng dân sự qui định việc xem xét, quyết định hoãn phiên toà khi có người vắng mặt: “tr­ường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do”.

    2. Không đ­a những ng­ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng

    Trong suốt cả quá trình giải quyết vụ án từ sơ thẩm đến phúc thẩm, Toà án không hề đ­ưa vợ tôi là Nguyễn Thị Dung, con trai tôi là Dư­ơng Đức Trung (22 tuổi) - hiện đang sống trên mảnh đất bị tranh chấp - vào tham gia tố tụng với t­ư cách ng­ười có quyền lợi nghĩa vụ liên quan mặc dù trong các bản tự khai cũng như­ tại các phiên hoà giải tôi đều trình bày gia đình vợ chồng tôi cùng nhau bỏ công tôn tạo, phát quang, đổ đất tạo lập thửa đất này. Đồng thời, chính Bản án phúc thẩm cũng nhận định ông Giang, bà Dung sử dụng ngay thẳng đất ở” và quyết định buộc vợ chồng” tôi phải trả lại đất cho bà Liên như­ng Bản án cũng không thể hiện vợ tôi- Nguyễn Thị Dung- là đư­ơng sự tham gia tố tụng trong vụ án (!?).

    Khoản 4 điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự quy định:

    Ng­ời có quyền li, nghĩa vụ liên quan trong v án dân sự là ngư­ời tuy không khởi kiện, không bị kiện, nh­ưng việc giải quyết v án dân sự có liên quan đến quyền li, nghĩa v của họ nên h đ­ưc t mình đề ngh hoc các đ­ơng s khác đề nghị và đư­ợc Toà án chấp nhận đư­a họ vào tham gia tố tng với tư­ cách là ng­ười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

    Trong tr­ường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một ngư­ời nào đó mà không có ai đề ngh đ­ưa h vào tham gia tố tng với t­ cách là ng­ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Toà án phải đư­a họ vào tham gia tố tng với tư­ cách là ng­ười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”

    Hiện nay vợ con tôi không có công ăn việc làm, cùng sống chung với tôi. UBND ph­ường Hùng Vương chứng nhận vợ chồng tôi làm nhà và sống ổn định từ 1983 đến nay, không vi phạm pháp luật. Việc xét xử vụ án này ảnh hư­ởng, liên quan trực tiếp đến cuộc sống của vợ con tôi. Điều luật quy định rõ là vậy, thế như­ng vợ con tôi không hề đ­ược triệu tập tham gia tố tụng để lấy ý kiến hoặc trình bày các vấn đề liên quan của vụ kiện hoặc đư­ợc đư­a ra yêu cầu liên quan đến quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình. Việc làm này của Toà án là vi phạm tố tụng nghiêm trọng, làm ảnh hư­ởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cả gia đình tôi.

    Để che đậy cho vi phạm này, Bản án phúc thẩm ghi: ”ông Giang và bà Dung là vợ chồng, quyền và nghĩa vụ đối với tài sản trong thời kỳ hôn nhân tồn tại là thống nhất và ngang nhau. Vợ hoặc chồng có thể thay mặt, đại diện tranh tụng, cấp sơ thẩm cũng đã yêu cầu bà Dung trình bày, tỏ rõ quan điểm(trang 6). Lời giải thích này là bịa đặt, không có cơ sở vì toàn bộ hồ sơ vụ án không có bút lục nào thể hiện việc vợ tôi uỷ quyền cho tôi đại diện tham gia tố tụng.

    Thứ ba: Xét xử không khách quan

    1. Căn cứ xác định đối t­ượng tranh chấp

    Thửa đất không giấy tờ chứng minh về nguồn gốc. Bà Liên khai bằng miệng rằng vợ chồng bà mua nhà đất này của cụ Mừng. Tại BL 95 - Cụ Tư­ờng Thị Mừng khai “có để lại cho bà Minh (tức bà Dư­ơng Thị Kim) có con là bà Liên, ông Hà chỗ nhà đất với giá 600 đồng. Khi nhượng lại không có giấy tờ gì, cũng không biết cụ thể diện tích là bao nhiêu, cũng nh­ư chiều dài, chiều rộng đất”, về nguồn gốc đất: “chỗ đất nhà tôi ở đó là do tự xuống để ở, xung quanh đều là mồ mả, dệ đầm … do đất ch­a ai ở nên cứ tự khai hoang…, tôi cũng không rõ diện tích khai phá là bao nhiêu”.

    Như­ vậy, lời khai của cụ Mừng chỉ thể hiện có việc bán đất cho mẹ bà Liên, chứ không giao dịch với bà Liên. Mặt khác, thửa đất này không có diện tích, ranh giới cụ thể thì lấy gì khẳng định rằng thửa đất gia đình tôi đang sử dụng là nằm trong diện tích mà mẹ bà Liên đã mua để buộc tôi phải trả lại cho bà Liên?

    2. Về giao dịch cho mư­ợn

    Khoản 1 điều 113 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 qui định điều kiện để giải quyết trường hợp hộ gia đình, cá nhân m­ượn đất, thuê đất của hộ gia đình, cá nhân khác như­ sau:

    a) Hộ gia đình, cá nhân cho m­ượn, cho thuê đất phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai;

    b) Có văn bản thoả thuận về việc m­ượn đất, thuê đất.”

    Bà Liên không có một trong các giấy tờ nêu trên cũng như­ không có bằng chứng về việc cho chúng tôi mư­ợn đất thì căn cứ vào quy định nào khác để Toà án xác định tôi mư­ợn đất và buộc phải trả lại cho bà Liên?

    3. Về chứng cứ trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp

    - Trong hồ sơ vụ án không hề có Đơn khởi kiện của nguyên đơn nh­ưng vẫn đ­ược hai cấp Toà án thụ lý xét xử.

    - Giấy xác nhận ngày 24/7/2004 (BL 80) có chữ ký xác nhận của một vài ngư­ời có quan hệ thân thuộc của phía nguyên đơn là không thuyết phục và nội dung xác nhận không đúng sự thật. Xác nhận việc năm 1968 gia đình bà Liên có mua lại của gia đình ông Bá+Mừng ba gian nhà trên diện tích đất “Phía Bắc giáp đất nhà ông bà T­ + Oanh.”

    Thực tế thửa đất gia đình ông bà T­+Oanh hiện đang ở do mua lại của bà Đỗ Thị H­ơng năm 1996, về nguồn gốc đất bà H­ơng trình bày “năm 1986 đến làm nhà ở cạnh nhà anh chị Dung Giang là bãi đất hoang, năm 1996 bán lại cho vợ chồng anh T­+Oanh hiện nay đang ở” (BL 74).

    Nh­ vậy sau khi vợ chồng tôi ra lập đất ở từ năm 1983 đến năm 1986 bà H­ơng mới ra làm nhà trên đất hoang bên cạnh nhà tôi. Sau 13 năm từ khi vợ chồng tôi lập đất ở đó (đến năm 1996) ông bà T­+Oanh mới mua lại nhà đất của bà H­ơng. Do đó, năm 1968 phía Bắc thửa đất không thể giáp đất ông bà T­+Oanh đ­ợc. Ông bà T­+Oanh tôn trọng sự thật cũng không xác nhận vào giấy đó cho bà Liên. Ngay bản thân ng­ời bán là bà T­ờng Thị Mừng cũng xác nhận: “Khi nh­ợng lại không có giấy tờ gì, cũng không biết cụ thể diện tích là bao nhiêu, cũng <st1:state ><st1:place >nh­</st1:place></st1:state> chiều dài, chiều rộng đất”.

    Bằng chứng cứ tự tạo thiếu khách quan đó, đ­ợc Toà phúc thẩm “đồng loã” chuyển h­ướng suy diễn ra rằng khi gia đình bà Liên mua nhà đất đã xác định tứ cận. Nay nhà tôi làm nhà giữa đất nhà T­+Oanh và đất nhà bà Liên, nghĩa là trong khuôn viên thửa đất đó (!?...)

    - Giấy xác nhận ngày 07/9/2004 của gia đình ông Nguyễn Xuân Cần (BL 81) là giả mạo.

    Giấy xác nhận ngày 07/9/2004 của gia đình ông Nguyễn Xuân Cần (BL 81), đầy đủ các thành viên ký tên trong đó có ông Cần ký (ông Nguyễn Xuân Cần đã mất cách đây 10 năm). Không hiểu bằng cách nào mà bà Liên lại có thể lấy đư­ợc xác nhận một ngư­ời chết cách đây hàng chục năm!?.

    Nội dung xác nhận thì không lôgíc, cụ thể ghi: “gia đình chúng tôi ở tổ 2 khu Thanh T­ước từ năm 1965 đến năm 1968”, như­ng lại xác nhận: “năm 1983 có anh Dư­ơng Văn Giang xuống xin học nghề sửa xe máy và làm hai gian nhà tranh trát đất ở tại trong phạm vi diện tích đất của ông Hà, bà Liên”. Nh­ vậy năm 1968 gia đình ông Cần không còn ở khu vực đó nữa mà lại có thể xác nhận một cách chi tiết sự việc của 15 năm sau (năm 1983) là năm vợ chồng tôi bắt đầu mới xuống khu đất hoang đó để làm nhà.

    - Trích lục bản đồ địa chính và Sổ mục kê:

    Toà án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào Trích lục bản đồ địa chính và Sổ mục kê để khẳng định bà Liên là chủ sử dụng thửa đất diện tích 950,2m2 bao gồm cả nhà tôi đã làm nhà ở và sử dụng ổn định từ năm 1983 là không hợp lý. Bởi lẽ, tuy bà Liên có tên trong Sổ mục kê như­ng là từ những năm 1987-1997 (có sau khi tôi ra làm nhà từ năm 1983) khi đó đất đai thuộc quyền sở hữu Nhà n­ớc, bà Liên chỉ mua nhà trên đất hoang và vợ chồng tôi cũng làm nhà trên đất hoang.

    Vợ chồng tôi đã ở đó từ lâu tuy không đư­ợc tách thửa trên bản đồ nh­ưng việc này không phải do lỗi của tôi mà do sơ xuất của cơ quan có thẩm quyền không đo vẽ cho tôi, không cá nhân, cơ quan nào thông báo về kê khai, đo vẽ (tại Biên bản xác minh ngày 24/3/2006 (BL 93), Biên bản xác minh ngày 29/5/2006 (BL 96) UBND ph­ường Hùng Vư­ơng cả hai lần trình bày đều khẳng định điều đó khi Toà án tiến hành xác minh). Đây cũng chỉ là sơ xuất không tách thửa của cơ quan đo vẽ còn về hiện trạng trên bản đồ nhà tôi vẫn thể hiện.

    Chứng cứ không đầy đủ, không chính xác, cơ quan quản lý đất đai ở địa phư­ơng đã khẳng định có sự sai sót, TAND thị xã Phúc Yên cũng đã thể hiện quan điểm nhận định như­ vậy tại Công văn thỉnh thị số 2/2006/CVTT ngày 4/5/2006 (BL 102). Như­ng Toà án cấp phúc thẩm không xác minh thêm, không thu thập chứng cứ mà đư­a ra xét xử thiếu công bằng.


    4. Chứng cứ quan trọng cần cung cấp bổ sung


    Đó là bức tư­ờng tự gia đình bà Liên xây làm hàng rào ngăn cách với nhà tôi, đến nay sau nhiều năm chính quyền địa phư­ơng phá dỡ giải toả đ­ường (khoảng năm 1997) mà vẫn còn một phần bức tư­ờng cũ như­ một minh chứng lịch sử (có ảnh chụp minh chứng và xin cung cấp kèm theo đơn này). Vì vậy phải khẳng định danh giới giữa nhà bà Liên và nhà tôi chính là bức t­ường rào.

    Thực tế gia đình chúng tôi ở và sử dụng ổn định năm 1983 đến nay, không biến đổi gì, đư­ợc UBND phư­ờng, Tổ trư­ởng dân phố và đông đảo nhân dân khu phố xác nhận và hiện nay họ vẫn còn sống, cụ thể là:

    1, Ông Ngô Phi – Tr­ưởng khu;

    2, Ông Bùi Duy Thái;

    3, Bà Bùi Xuân Ph­ương;

    4, Ông Bùi Văn Tô;

    5, Bà Đàm Thị Tuyết;

    6, Ông Lê Văn Sơn (Thắng);

    7, Ông Lê Ngọc Hạnh;

    8, Ông Nguyễn Viết Dũng;

    9,   Ông Bùi Văn Thú;

    10, Ông Nguyễn Xuân T­;

    11, Ông Nguyễn Văn Tính;

    12, Bà Đõ Thị H­ương;

    13, Ông Nguyễn Ngọc Quý;

    14, Bà Nguyễn Thị Bình – Tổ tr­ởng Tổ 16;

    15, Bà Đõ Thị Hoa.

    Từ những lập luận, viện dẫn điều luật như­ trên cho thấy Quyết định phúc thẩm số 01/2006/DSPT ngày 19/01/2006 và Bản án phúc thẩm số 113/2006DSPT ngày 26/12/2006 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc là không khách quan, vừa vi phạm tố tụng nghiêm trọng, vừa áp dụng sai pháp luật.

    Tôi kính đề nghị Quý ông, Quý cơ quan xem xét để giám đốc thẩm, huỷ Quyết định và Bản án phúc thẩm nêu trên của TAND tỉnh Vĩnh Phúc, giao trả hồ sơ đến UBND thị xã Phúc Yên là cơ quan hành chính Nhà n­ớc có thẩm quyền giải quyết theo đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục do pháp luật qui định.

     
    Báo quản trị |  
  • #194   02/08/2008

    LS_NguyenThiMinhHieu
    LS_NguyenThiMinhHieu
    Top 500
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:07/05/2008
    Tổng số bài viết (133)
    Số điểm: 679
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 13 lần



    Tôi xin trả lời như sau:

    A/ Qua nghiên cứu đơn của ông trình bày đất của ông đang tranh chấp chưa  ai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo luật đất đai năm 1993, việc tranh chấp  loại đất này thuộc thẩm quyền giải quyết của ủy ban nhân dân các cấp (căn cứ  vào điều 38 khoản 2 luật đất đai 1993) cần lưu ý  trên diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo luật đất đai 1993, có tài sản như nhà ở, công trình kiến trúc, cây lưu năn, nhưng không có tranh chấp về tài sản này mà chỉ tranh chấp về quyền sử dung đất thì do ủy ban nhân dân giải quyết.  

    Việc tranh chấp đất giữa ông và bà Liên thẩm quyền giải quyết không thuộc về tòa án. Việc tòa án nhân dân  tỉnh Vĩnh Phúc lấy lên để xét xử vụ án là vi phạm tố tụng nghiêm trọng. Hơn thế nữa việc xét xử không  khách quan cho rằng  tổng diên tích 950,2 mét vuông thuộc về bà Cúc toàn bộ là không có căn cứ. Tòa án không nắm vững nguồn gốc và căn cứ pháp lý của nhà đất đang tranh chấp. Việc đầu tiên cần quan tâm là đất này có nguồn  gốc như thế nào? Vì đất này chưa có lý lịch rõ ràng mà phải thông qua khâu điều tra, xác minh mới khẳng định được. 

    Ở đây sự việc này đã có xác minh của Thanh tra thị xã Phúc Yên kết luận "chưa có đủ cơ sở, căn cứ để giải quyết."
    Không chỉ có thanh tra có  kết luận như vậy mà ngay cả ủy ban nhân dân  phường  Hùng vương là nơi trực tiếp quản lý đất đai  là cơ quan hành chính nhà nước nắm rõ chi tiết các thửa đất đã xác nhận do  trắc địa đo vẽ không tách thửa đất của gia đình ông và bà Cúc nên gộp chung  vào thửa số 26 tờ bản đồ 45.

    Ủy ban phường đã khẳng định như vậy, tại sao tòa án lại bỏ qua  căn cứ quan trọng này? Chính vì ủy ban phường Hùng Vương nắm rõ từng thửa đất thuộc quyền sử dụng của ai  nên  khi bà Liên làm thủ tục xin cấp quyền sử dụng đất kê  khai xin cấp cả diện tích đất của gia  đình ông đã bị ủy ban nhân dân phường Hùng Vương nơi quản lý đất đai từ chối. 

    Đây là một căn cứ pháp lý một chứng cứ rất khách quan được chính quyền nơi quản lý đất đai, có cả sự đồng ý của  người dân và trưởng khu phố xác nhận. Tại sao tòa án lại bỏ qua. Tiếp theo là những sai phạm khác như ông trình bày trong đơn  tôi nhận  thấy có đủ căn cứ  để  ông kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

    1/ Thẩm quyền giải quyết tranh chấp nêu trên  không thuộc về tòa án.

    2/ Việc điều tra không đầy đủ

    3/ Kết luận trong bản án và ra quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án.

    4/ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

    5/ Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật

    B/ Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm;

    1/ Những người sau đây có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm: 

    a. Chánh án tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị bản án, quyết định của tòa án các cấp.

    b. Phó chánh án tòa án nhân dân tối cao, phó viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị bản án, quyết định của các tòa án cấp dưới,

    c. Chánh án tòa án cấp tỉnh, viện  trưởng viện kiểm sát cấp tỉnh có quyền kháng nghị  bản án, quyết định của tòa án cấp dưới.

    2/ Những người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật  có quyền  tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó.

    Như vậy sự việc của ông phải  nộp đơn gửi Chánh án  Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng VKSND tối cao, phó chánh án tòa án nhân dân tối cao hoặc phó viện trưởng VKSND tối cao.

    Việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được tiến hành trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày bản án, quyết  định có hiệu lực pháp luật.

    Thời hạn xét xử giám đốc thẩm, phiên tòa giám đốc thẩm được tiến hành trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị của những người có thẩm quyền kháng nghị nêu trên  mục B.

    Vì tôi ở thành phố Hồ Chí Minh xa quá  nên tôi không trực tiếp giúp ông được  nếu ông cần tôi  sẽ giới thiệu ông luật sư tiến sĩ NGUYỄN THANH BÌNH    Thuộc đoàn luật sư Hà Nội và chủ nhiệm khoa trường đào tạo các chức danh tư pháp.

    Chào ông.

     
    Báo quản trị |  
  • #205   05/08/2008

    vclong2008
    vclong2008
    Top 500
    Lớp 2

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (124)
    Số điểm: 3327
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 4 lần


    Vâng xin cảm ơn Luật sư Minh Hiếu.

    Được sự giới thiệu của Luật sư tới một Luật sư giỏi thì còn gì bằng.

    Tuy nhiên tôi chỉ băn khoăn vì thông tin đại chúng, đài báo đều nói việc Giám đốc thẩm như "mò kim đáy bể" rồi lên TAND TC thật khó đối với người dân vì đã "Tối" lại ở tận trên "Cao" thì thảo dân sao với tìm được.

    Hiện tại tôi đang lo nhất là Toà cấp dưới đã dám vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và hàng loạt sai phạm khác như bạn nói thì họ sẵn sàng có động cơ nào đó để thúc giục thi hành án và theo qui định của pháp luật hiện hành thì Cơ quan THA chỉ là "cỗ máy chém" không liên quan, trách nhiệm gì đối với bản án mà thời hạn Tố tụng còn (còn được khiếu nại GĐT mà) nên họ cứ phá nhà tôi thì tôi chỉ còn cách kêu trời sao.     

    Tôi vẫn tin tưởng bạn có cách cứu giúp tôi, bảo vệ cuộc sống cho những người dân lương thiện.

     
    Báo quản trị |  
  • #206   06/08/2008

    LS_NguyenThiMinhHieu
    LS_NguyenThiMinhHieu
    Top 500
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:07/05/2008
    Tổng số bài viết (133)
    Số điểm: 679
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 13 lần


    Gia đình nên  đến gặp luật sư  Nguyễn  Thanh  Bình  và nói với ông Bình cô l/s Hiếu ở thành phố Hồ Chí Minh  giới thiệu, vì tôi ở xa  nên ông cứ gặp ông Bình đi, khi gặp  ông Bình  nếu cần thiết gọi điện cho tôi số  0903 877 249  tôi sẽ nói thêm để ông Bình  giúp đỡ ông.

    Khi  gặp kèm theo tất  cả hồ sơ và  bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm,  tất  cả đều mang theo bản photo.

    Mong ông  hãy tự tin  và cố lên.

    Chào ông.

     
    Báo quản trị |  
  • #233   12/08/2008

    asdf
    asdf

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (5)
    Số điểm: 50
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Đất đai trước năm 1993 giải quyết theo Luật nào

    Xin Luật sư Minh Hiếu cho tôi hỏi sự việc như sau:

    Năm 1985, ông nội tôi có khai hoang một mảnh đất diện tích là 1,3ha. Ông tôi sử dụng đến năm 1989 thì xã vận động hiến đất để xây phòng khám đa khoa, ông tôi là một trong số những người được xã vận động và ông tôi đã giao 1,3ha trên để xã xây dựng phòng khám đa khoa.

    Năm 1998, chú tôi đi nghĩa vụ quân sự về không có đất canh tác, trong khi đó diện tích 1,3ha trên vẫn không sử dụng làm phòng khám đa khoa, nên chú tôi đã làm đơn xin lại 1,3ha đất trên để canh tác, nhưng chủ tich UBND xã trả lời (không bằng văn bản) "đất để làm sân bóng".

    Đến nay, diện tích đất 1,3ha trên không được làm phòng khám đa khoa, không được làm sân bóng,  chú tôi có làm đơn xin lại đất  nhưng xã không giải quyết, nhưng diện tích đất trên đã bị Bí thư xã và Chủ tịch mặt trận xã chiếm dụng.

    Tuy diện ông nội tôi không có bất cứ giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất trên, nhưng những người có đất xung quanh và Bĩ thư xã đã từng vận động ông nội tôi hiến đất đều ký vào văn bản xác nhận đất trên là đất của ông nội tôi.

    Luật sư hiếu có thể cho tôi biết nếu giải quyết vụ này thì sẽ dựa vào Luật đất đai nào và các văn bản pháp luật nào để giải quyết, ông nội tôi làm đơn kiện vậy cơ hội lấy lại đất có được không? và trong đơn khởi kiện nên viết là "hiến đất" hay " cho mượn đất"?

    Tôi rất mong nhận được trả lời của luật sư Minh Hiếu, gia đình tôi chân thành cảm ơn và chúc Luật sư Hiếu sức khỏe và thành đạt.

     
    Báo quản trị |  
  • #234   13/08/2008

    LS_NguyenThiMinhHieu
    LS_NguyenThiMinhHieu
    Top 500
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:07/05/2008
    Tổng số bài viết (133)
    Số điểm: 679
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 13 lần


    Tôi xin trả lời như sau: theo điều 50 của luật đất đai, hộ gia đình cá nhân sử dụng đất không có các giấy tờ quy định như quyền sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp, nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước 15/10/1993 được ủy ban nhân dân xã phường xác nhận, là đất không có tranh chấp thì sẽ được cấp quyền sử dụng đất.

    Nhưng vì ông nội của anh /chị có ký vào giấy hiến đất cho xã để xây phòng khám đa khoa  nhưng  xã sử dụng không đúng mục đích. Tôi cũng rất muốn biết nội dung hiến tặng  đất của ông nội anh/chị thể hiện ý chí của mình như thế nào, có lập bằng văn bản và có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không?  Nếu việc tặng cho đất bị ép buộc, hay  bị lừa dối  thì văn bản đó vô hiệu.

    Ông  nội anh/ chị muốn khiếu nại xin lại đất để sử dụng  thì phải trình tự các bước:

    - Trước tiên, gởi đơn khiếu nại đến  ủy ban nhân dân phường xã nơi có đất để tiến hành hòa giải  với ủy ban xã. Nếu hòa giải không thành, thì lập biên bản hòa giải không thành tiếp theo đó gửi đơn đến ủy ban nhân dân huyện  hoặc quận  để  được  giải quyết. 

    - Nếu không đồng ý với  quyết định của UBND Quận/ huyện  thì   khiếu nại đến ủy ban nhân dân tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương, đây là quyết định cuối cùng. 

    - Nếu không đồng ý với quyết định của ủy ban tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương  thì khởi kiện  đến tòa hành chính. Việc lấy lại được đất hay không tùy thuộc vào chứng cứ. Trong đơn khởi kiện nói đúng sự thật.

    Chào anh/ chị

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn LS_NguyenThiMinhHieu vì bài viết hữu ích
    canhhao (06/12/2013)
  • #301106   06/12/2013

    canhhao
    canhhao

    Sơ sinh

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:11/10/2012
    Tổng số bài viết (27)
    Số điểm: 430
    Cảm ơn: 15
    Được cảm ơn 0 lần


    Vấn đề như trên LS minh hiếu cho tôi hỏi. Gỉa sử trường hợp trên Ông nội của bạn  " asdf " chỉ hiến đất bằng miệng để làm Phòng khám mà không có văn bản gì hay ký kết gì . Thì bây giờ có còn thời hiệu khiếu nại không ?

     
    Báo quản trị |  

Tư vấn của luật sư có tính chất tham khảo, bạn có thể liên hệ trực tiếp với Luật sư: