Phân cấp bậc thành viên mới từ tháng 6/2014
  • Trang nhất
  • Luật Sư Tư Vấn
  • Cùng Thảo Luận
  • Tìm Luật Sư
  • Thành Viên
  • Trang Của Tôi

Chủ đề chưa có phản hồi

103 Trang «<42434445464748>»
  • 08/12/2013, 09:18:36 SA | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    Dona
    Dona

    Sơ sinh


    Tham gia:28/11/2013
    Tổng số bài viết (6)
    Số điểm: 135
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 1 lần


    Ngày 1/2/2006, A kí HĐ bán cho B ngôi nhà trị giá 1,2 tỷ VNĐ. B đặt cọc trước 120 triệu VNĐ. Việc đạt cọc có làm văn bản ghi rõ: đặt cọc để bảo đảm giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán nhà. Hai bên thỏa thuận trong văn bản đạt cọc là 15/4/2006, các bên phải ra công chứng hợp đồng. Hãy giải quyết các tình huống sau đây:

    1. Ngôi nhà này là tài sản chung của vợ chồng ông A và bà C. Sau khi ông A kí văn bản đặt cọc thì bà Cbiết và đã phản đối. Ông B dòi ông A phải chịu phạt cọc, ông A năn nỉ ông B cho hoàn trả lại tiền cọc, nhưng ông B không đồng ý.

    2. Sau khi thuyết phục bà C đồng ý bán nhà và các bên đã ra công chứng đúng như cam kết, hợp đồng mua bán ghi rõ: bên bán phải giao nhà cho bên mua và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày công chứng hợp đồng. TIền mua nhà trả hết vào thời điểm bàn giao nhà. Ngày 1/5/2006, DNTN do ông B làm chỉ bị phá sản. NGôi nhà mà ông B đang ở bị kê biên trả nợ. Dến hạn ông B yêu cầu ông A, bà C giao nhà và cho ông được hoãn nghĩa vụ trả tiền một thời gian. Ông A, bà C từ chối gioa nhà vì biết ông B không còn khả năng trả tiền đúng như cam kết. Ngày 30/6/2006, ông B mang tiền đến xin nhận nhà thì trước đó, ngày 15/6/2006, ngôi nhà này đã bị hư sập nặng do bị động đất. Các bên đều đổ lỗi cho nhau và đòi bên kia bồi thường cho mình. Hãy giải quyết tranh chấp giữa các bên.

  • 08/12/2013, 08:51:15 SA | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    carom
    carom

    Male
    Sơ sinh

    Phú Yên, Việt Nam
    Tham gia:15/02/2012
    Tổng số bài viết (3)
    Số điểm: 60
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 0 lần


    Năm 2010, Công ty A vay vốn NH để thi công công trình và sử dụng khối lượng hoàn thành trong tương lai của chính công trình đó để thế chấp cho Ngân hàng (đã ký hợp đồng thế chấp và đăng ký GDBĐ). Khối lượng hoàn thành sau đó đã được chủ đầu tư xác nhận công nợ vào năm 2011 nhưng chưa trả tiền.

    Năm 2013, Công ty thua lỗ, Ngân hàng tiến hành khởi kiện, đề nghị chủ đầu tư thanh toán khối lượng xây lắp hoàn thành của Công ty qua tài khoản của Ngân hàng để thu nợ. Chủ đầu tư đã xác nhận số tiền còn nợ Công ty A, tuy nhiên chủ đầu tư cũng đưa ra Quyết định cưỡng chế thuế của cơ quan thuế đề nghị cưỡng chế khoản phải thu của công ty A để đóng thuế.

    Vấn đề cần giải đáp:

    Nghĩa vụ nào được ưu tiên thanh toán trước?

    Cơ quan thuế ra QĐ cưỡng chế thuể tài sản đã được đăng ký GDBĐ là đúng hay sai? Có thể đề nghị cơ quan thuế rút lại QĐ cưỡng chế hay ko?

  • 04/12/2013, 02:24:59 SA | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    ngoquangdung
    ngoquangdung

    Male
    Sơ sinh

    Quảng Trị, Việt Nam
    Tham gia:30/03/2013
    Tổng số bài viết (8)
    Số điểm: 130
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 2 lần


    ngay 28/6/2007 công ty VK kí hợp đồng chuyển nhượng cho công ty MT 42 175 m2 đất giấy chứng nhận quyền sử dụng số D08020800 do UBND tỉnh SÔNG BÉ cấp ngày 18/02/1995. trong đó 10 000m2 là đất xây dựng 32 175 m2 la dất nông nghiệp ,sau đó nha nước vẩn cho phép việc mua bán trên ,nhung ngày 27/07/2009 bên mua phát hiện 10 000m2 đất xây dựng nhà máy đã bị  quy hoạch ,chỉ được làm dịch vụ vui chơi giải trí nên bên mua không mua nữa và yêu cầu phạt cọ ,bên bán không đồng ý , việc thay đổi quy hoạch trên công ty VK đã biêt từ năm 2006, nhưng không thông báo với với công ty mT .hai bên có tranh chấp voi tư cách hợp đồng chuyển nhượng 

    Với tư cách là luật sư tư vấn ,anh chị hảy tư vấn để công ty MT đòi quyền lợi cho mình ,căn cứ vào bộ luật dan sự 2005 và các văn bản hướng dẩn thi hành

     

  • 03/12/2013, 12:32:39 SA | Trong chuyên mục Tài liệu Pháp luật

    luatnvs1
    luatnvs1
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/11/2013
    Tổng số bài viết (116)
    Số điểm: 1056
    Cảm ơn: 15
    Được cảm ơn 16 lần


     

     

    Hoạt động định giá TSTT ở Việt Nam diễn ra từ khá lâu trước khi Luật SHTT ra đời năm 2005 song cho đến hiện nay việc định giá TSTT này vẫn chưa tuân theo một chuẩn mực nào. Điều này xuất phát từ việc các văn bản pháp luật về lĩnh vực này còn khá sơ sài và chồng chéo. Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về định giá TSTT hầu như không điều chỉnh trực tiếp vấn đề định giá TSTT mà chỉ đề cập tới các quy định mang tính chất nguyên tắc về cách thức tính toán (dựa trên sổ sách) của tài sản vô hình – trong đó bao gồm các TSTT. Ngay cả các văn bản pháp lý chuyên ngành về SHTT như Luật SHTT và các Nghị định hướng dẫn thi hành cũng chưa có một quy định liên quan đến việc định giá TSTT. Để việc định giá TSTT ở Việt Nam trong thời gian tới được đồng bộ thì cần có một văn bản pháp lý thống nhất khắc phục những bất cập của pháp luật về định giá tài sản vô hình nói chung và TSTT nói riêng hiện nay là một điều tất yếu.

    1. Dẫn nhập

    Đối với các doanh nghiệp, tài sản trí tuệ (TSTT) đóng vai trò là thước đo hiệu quả kinh doanh, sức cạnh tranh và khả năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Việc định giá TSTT giúp các doanh nghiệp khẳng định được vị thế, uy tín trên thị trường, đồng thời doanh nghiệp có thể tiến hành thương mại hóa được các TSTT một cách thuận lợi. Tuy nhiên, việc định giá TSTT ở Việt Nam còn chưa tuân theo một chuẩn mực nào. Điều này có thể thấy rõ khi năm 1995, nhãn hiệu kem đánh răng “P/S” đã được định giá 5 triệu USD trong thương vụ chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu của công ty Hóa mỹ phẩm Phong Lan cho Tập đoàn Unilever của Anh – Hà Lan hay nhãn hiệu kem đánh răng "Dạ Lan" của Tổ hợp Sơn Hải cũng được hãng Colgate (Hoa Kỳ) định giá 3 triệu USD [1]. Song sau 14 năm, vào năm 2009, giá trị của nhãn hiệu TISCO của công ty Gang thép Thái Nguyên chỉ được định giá 39,5 tỷ đồng khi cổ phần hóa doanh nghiệp (chưa bằng 3% tổng giá trị tài sản – 1084 tỷ đồng) [2]. Ngoài ra, còn có nhiều doanh nghiệp khi cổ phần hóa cũng chưa thực sự chú trọng việc tính giá trị của các TSTT vào giá trị của doanh nghiệp để cổ phần hóa như Kem Tràng Tiền hay Bánh tôm Hồ Tây…

     

    Vấn đề định giá TSTT đã được nhiều nhà chuyên môn nước ngoài và Việt Nam nghiên cứu. Có thể kể tới các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài:

    (1) Các bài viết về vai trò của định giá TSTT và các phương pháp định giá TSTT như: Céline Lagrost, Donald Martin, Cyrille Dubois & Serge Quazzotti, “Định giá TSTT: Làm thế nào để lựa chọn một phương pháp định giá thích hợp”[3]; Daryl Martin & David Drews, “Kỹ thuật định giá TSTT” [4]; John Turner, “Định giá TSTT, Kỹ thuật định giá: các tham số, phương pháp và giới hạn” [5];

    (2) Các bài viết về các tiêu chuẩn định giá TSTT của Hoa Kỳ như: Micheal R. Annis & Brad L. Pursel, “Định giá TSTT theo các nguyên tắc được chấp nhận chung (GAAP) của Hoa Kỳ và sự ảnh hưởng tới sự tranh chấp về SHTT; Ian McClure, “Kiểm tra sự tăng trưởng kinh tế: Định giá, tài chính và trao đổi TSTT” [6]; J. Timothy Cromley, “Các tiêu chuẩn định giá TSTT” [7].

    Định giá TSTT là một vấn đề khá mới ở Việt Nam song cũng đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tới lĩnh vực mới này:

    (1) Các nghiên cứu về nhu cầu, mục đích và các phương pháp định giá TSTT: Vũ An Khang, “Nhu cầu định giá TSTT và các vấn đề về tài chính, kế toán có liên quan”; TS Vũ Thị Hải Yến, “TSTT và các phương pháp định giá TSTT trong hoạt động kinh doanh thương mại của doanh nghiệp”;

    (2) Các nghiên cứu về định giá TSTT khi cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước: TS Trần Văn Hải, ThS Trần Điệp Thành, Một số điểm cần chú ý khi định giá TSTT của doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hoá; ThS Nguyễn Thị Tuyết, “Vai trò của TSTT và thực trạng nhận thức của doanh nghiệp và các cơ quan tài phán Việt Nam về TSTT trong cổ phần hóa doanh nghiệp”;

    (3) Nghiên cứu về định giá TSTT khi góp vốn bằng TSTT của PGS. TS Trần Văn Nam,“Góp vốn bằng TSTT của doanh nghiệp Việt Nam: Thực trạng và một số vấn đề tồn tại”.

    Nguyên nhân dẫn đến việc định giá TSTT ở Việt Nam còn chưa theo một tiêu chuẩn nào xuất phát từ những bất cập của pháp luật. Do đó, trong bài viết, tác giả sẽ chỉ ra những bất cập trong các quy định của pháp luật Việt Nam về định giá TSTT và đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật này để việc định giá TSTT sẽ được thống nhất hơn trong thời gian tới.

    2. Thống nhất thuật ngữ

    Thuật ngữ “TSTT” được sử dụng trong bài viết là thuật ngữ chỉ các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) được bảo hộ và được phép chuyển giao theo quy định Luật SHTT [8].

    Khái niệm“định giá” có thể hiểu thông qua 2 khái niệm “định giá bất động sản” “định giá công nghệ”:

    “Định giá bất động sản là hoạt động tư vấn, xác định giá của một bất động sản cụ thể tại một thời điểm xác định” (Khoản 9 Điều 4 Luật kinh doanh bất động sản 2006);

    “Định giá công nghệ là hoạt động xác định giá của công nghệ” (Khoản 14 Điều 3 Luật chuyển giao công nghệ 2006)

    Theo đó, “định giá” là việc đánh giá giá trị của tài sản tại một địa điểm, thời điểm nhất định. Định giá là công việc tư vấn, định các mức giá cụ thể cho từng loại tài sản làm căn cứ cho các hoạt động giao dịch, mua bán tài sản đó trên thị trường. Việc định giá tài sản là do các cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu tài sản tự thực hiện.

    Khái niệm “định giá” không thể đồng nhất với khái niệm “thẩm định giá”. Theo Khoản 2, Điều 4 Pháp lệnh giá 2002: “Thẩm định giá là việc đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn của Việt Nam hoặc thông lệ quốc tế”. Với quy định trên “thẩm định giá” được hiểu là việc xác định giá thị trường của tài sản. Thẩm định giá là việc tìm ra giá cả của tài sản định bán trong một thị trường. Công việc thẩm định giá thường do các thẩm định viên về giá thực hiện theo tiêu chuẩn thẩm định giá do Nhà nước quy định.

    Trong bài viết, thuật ngữ “định giá TSTT” được hiểu là việc đánh giá giá trị của các TSTT tại một địa điểm, thời điểm nhất định.

    3. Pháp luật về định giá TSTT

    3.1. Pháp luật quốc tế và nước ngoài về định giá TSTT

    3.1.1. Pháp luật quốc tế về định giá TSTT

    Hiện nay chưa có một văn bản pháp luật quốc tế nào điều chỉnh việc định giá TSTT vì vậy việc định giá TSTT vẫn chủ yếu được thực hiện theo Hướng dẫn về định giá các tài sản vô hình số 4 do Hội đồng định giá quốc tế (IVSC) công bố [9]. Hướng dẫn này được coi là một tài liệu tham khảo mang tính hướng dẫn chung về định giá TSTT nói riêng và định giá tài sản vô hình nói chung theo tiêu chuẩn quốc tế.

    3.1.2. Pháp luật của một số quốc gia về định giá TSTT

    Hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào hướng dẫn về việc định giá TSTT nói riêng và định giá tài sản vô hình nói riêng. Hiện nay ở Hoa Kỳ chỉ có một vài hướng dẫn của các Hiệp hội mang tính chất tham khảo. Năm 2001, Hội đồng tiêu chuẩn tài chính kế toán công bố 2 thông báo về những tiêu chuẩn tài chính kế toán trong đó có quy định về việc định giá tài sản vô hình, TSTT khi sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp đó là: Thông báo số 141: Hợp nhất doanh nghiệp; Thông báo số 142: Lợi thế thương mại và những tài sản vô hình khác [10]. Năm 2008, Hiệp hội định giá viên Hoa Kỳ đã ban hành “Tiêu chuẩn định giá doanh nghiệp” trong đó Tiêu chuẩn IX quy định về việc định giá tài sản vô hình [11].

    Pháp luật Trung Quốc hiện nay cũng chưa có một văn bản pháp luật quy định riêng về định giá TSTT. Việc định giá TSTT hiện nay chủ yếu dựa vào các tiêu chuẩn định giá tài sản vô hình được quy định trong Thông tư về việc đưa ra các tiêu chuẩn định giá tài sản – tài sản vô hình của Bộ Tài chính năm 2001 (sửa đổi năm 2008).

    3.2. Pháp luật Việt Nam về định giá TSTT

    Việt Nam đã ban hành một số văn bản pháp luật liên quan đến việc định giá TSTT như: Luật thi hành án dân sự 2008, Luật Doanh nghiệp 2005, Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn thi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp (Nghị định 102/2010/NĐ-CP), Chuẩn mực kế toán số 04 về tài sản cố định (TSCĐ) vô hình ban hành và công bố theo Quyết định 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính (Chuẩn mực kế toán số 04), Thông tư 203/2009/TT-BTC quy định về hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ (Thông tư 203/2009/TT-BTC), Thông tư 202/2011/TT-BTC hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần theo quy định tại Nghị định số 59/2011/NĐ-CP (Thông tư 202/2011/TT-BTC)… Tuy nhiên, hệ thống pháp luật Việt Nam về định giá TSTT vẫn còn khá sơ sài. Các văn bản pháp luật nêu trên hầu như không điều chỉnh trực tiếp vấn đề định giá TSTT mà chỉ đề cập tới các quy định mang tính chất nguyên tắc về cách thức tính toán (dựa trên sổ sách) của tài sản vô hình – trong đó bao gồm các TSTT. Ngay cả Luật SHTT 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Luật SHTT) và các Nghị định hướng dẫn thi hành là những văn bản pháp lý chuyên ngành về SHTT cũng chưa có một quy định nào quy định về việc định giá TSTT.

    4. Những bất cập trong các quy định của pháp luật Việt Nam về định giá TSTT

    4.1. Việc sử dụng các thuật ngữ trong các văn bản pháp luật có liên quan tới việc định giá các TSTT còn chưa thống nhất.

    Do được ban hành vào năm 2001 trước khi Luật SHTT ra đời nên Chuẩn mực kế toán số 04 vẫn còn sử dụng các thuật ngữ cũ chưa thống nhất với Luật SHTT khi liệt kê ra các TSTT: “bằng sáng chế, bản quyền, phần mềm máy vi tính, nhãn hiệu hàng hóa”là TSTT do doanh nghiệp đầu tư sẽ được coi là TSCĐ vô hình của doanh nghiệp [12]. Thuật ngữ “bằng sáng chế” hay chính xác hơn là “bằng độc quyền sáng chế” dùng để chỉ văn bằng bảo hộ ghi nhận các thông tin về chủ sở hữu sáng chế, tên tác giả, đối tượng bảo hộ, phạm vi bảo hộ và thời hạn bảo hộ nên “bằng độc quyền sáng chế” sẽ không phải là một TSTT và nó cũng không là TSCĐ vô hình của doanh nghiệp. Do vậy, những “sáng chế” được pháp luật bảo hộ mới là TSCĐ vô hình chứ không phải là văn bằng bảo hộ ghi nhận những thông tin liên quan đến sáng chế được bảo hộ. Ngoài ra, “phần mềm máy vi tính” hay chính xác hơn là “phần mềm máy tính” không được coi là một trong những đối tượng của quyền SHTT mà chỉ có “chương trình máy tính”là một trong những đối tượng của quyền tác giả theo Khoản 1 Điều 22 Luật SHTT do đó việc liệt kê ra “phần mềm máy tính” là một trong những TSTT theo như Chuẩn mực kế toán 04 là chưa chuẩn xác.

    Điểm b khoản 1 điều 6 Thông tư 203/2009/TT-BTC có sử dụng thuật ngữ “bằng sáng chế phát minh” là một trong những đối tượng của TSCĐ vô hình. Tuy nhiên, trong luật SHTT lại không tồn tại thuật ngữ này mà chỉ sử dụng thuật ngữ “bằng độc quyền sáng chế”. Điều đáng nói là Thông tư 203/2009/TT-BTC được ban hành vào 20.10.2009 tức là sau khi ban hành Luật SHTT sửa đổi, bổ sung vào 19.6.2009 mà vẫn sử dụng không đúng thuật ngữ so với Luật SHTT. Hơn nữa như đã phân tích mà chỉ có “sáng chế” được pháp luật bảo hộ là TSTT và là TSCĐ vô hình chứ không phải “bằng sáng chế phát minh”. Ngoài ra, Thông tư này đã sử dụng thuật ngữ “giống cây trồng”  “vật liệu nhân giống” để chỉ các đối tượng của quyền đối với giống cây trồng là chưa chuẩn xác theo như quy định của Luật SHTT vì đối tượng của quyền đối với giống cây trồng là“vật liệu nhân giống”  “vật liệu thu hoạch”.

    4.2. Mâu thuẫn trong việc coi TSTT nào là TSCĐ vô hình để định giá và tính vào giá trị của doanh nghiệp

    Theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 04 thì chỉ có một số các đối tượng của quyền SHTT mới được coi là TSCĐ vô hình như sáng chế, quyền tác giả, nhãn hiệu (trong trường hợp nhãn hiệu đó không phải được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp như nhãn hiệu đó được mua lại, góp vốn…). Nhưng trong Thông tư 203/2009/TT-BTC tại Khoản 2 Điều 4 quy định tất cả các đối tượng của quyền SHTT đều được coi là TSCĐ vô hình và từ đó là cơ sở để định giá và tính vào giá trị của doanh nghiệp.

    Điểm b Khoản 1 Điều 6 của Thông tư 203/2009/TT-BTC đã coi“chỉ dẫn địa lý” là một loại TSCĐ vô hình của doanh nghiệp đã mâu thuẫn với quy định tại Khoản 4 Điều 121 của Luật SHTT: “chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam là Nhà nước”. Do đó, không thể coi “chỉ dẫn địa lý” là một loại TSCĐ vô hình của doanh nghiệp được.

    “Thương hiệu” có được là TSCĐ vô hình của doanh nghiệp hay không vẫn còn mâu thuẫn. Theo quy định của Điểm a Khoản 7 Điều 18 của Thông tư 202/2011/TT-BTC thì giá trị của “thương hiệu” (bao gồm “nhãn hiệu”  “tên thương mại”) được tính vào giá trị của doanh nghiệp khi cổ phần hóa. Tuy nhiên, trong Chuẩn mực kế toán số 04 lại không quy định “thương hiệu” là TSCĐ để được định giá và tính vào giá trị doanh nghiệp.

    4.3. Quy định về chủ thể định giá TSTT còn chưa thực sự hợp lý

    Theo Điều 30 Luật Doanh nghiệp thì TSTT là một trong những loại tài sản có thể góp vốn vào doanh nghiệp và nêu ra chủ thể có quyền định giá TSTT góp vốn:

    + Khi góp vốn để thành lập doanh nghiệp, TSTT được góp vốn phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí (100% phiếu thuận).

    Với quy định tại Khoản 2 Điều 30 Luật Doanh nghiệp thì các thành viên/cổ đông sáng lập nên doanh nghiệp sẽ là những người trực tiếp định giá TSTT. Việc định giá trên có thể không phụ thuộc vào một tính toán cụ thể dựa trên các yếu tố thị trường, chi phí hay lợi nhuận của TSTT đó. Do đó, sẽ dẫn tới 2 trường hợp:

    Trường hợp 1: TSTT được định giá thấp hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn.

    Trường hợp 2: TSTT được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn.

    + Khi doanh nghiệp đã hoạt động, việc định giá TSTT sẽ do doanh nghiệp và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá.

    Khoản 3 Điều 30 Luật Doanh nghiệp quy định về chế tài đối với người góp vốn hoặc tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm khi việc định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn. Chế tài này được thực hiện đối với các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khi doanh nghiệp thua lỗ hoặc phá sản. Tuy nhiên quy định trên cũng không quy định rõ trường hợp nào“người góp vốn và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”, trường hợp nào“tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp” phải liên đới chịu trách nhiệm? Khi nào mà cả 3 chủ thể trên đều phải liên đới chịu trách nhiệm?

    4.4. Bất cập trong việc sử dụng phương pháp định giá TSTT

    Khoản 2 Điều 4 của Thông tư 203/2009/TT-BTC quy định về việc xác định nguyên giá TSCĐ vô hình: Nguyên giá của TSCĐ vô hình là quyền tác giả, quyền SHCN, quyền đối với giống cây trồng theo quy định của Luật SHTT là toàn bộ các chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra (Điểm e). “Nguyên giá TSCĐ của các chương trình phần mềm được xác định là toàn bộ các chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có các chương trình phần mềm (Điểm g).

    Như vậy, theo quy định của Thông tư 203/2009/TT-BTC thì việc xác định giá của TSTT là theo phương pháp định giá dựa trên chi phí quá khứ.

    Thông tư 202/2011/TT-BTC quy định việc xác định giá trị “thương hiệu” là để góp phần xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp khi định giá doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa: “Giá trị thương hiệu được xác định trên cơ sở các chi phí thực tế cho việc tạo dựng và bảo vệ nhãn hiệu, tên thương mại trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp…”.

    Như vậy, theo quy định của Thông tư 202/2011/TT-BTC thì mới chỉ đưa ra cách tính giá trị của “thương hiệu” dựa trên giá trị của “nhãn hiệu”  “tên thương mại”. và cũng dựa trên phương pháp chi phí quá khứ.

    Có thể thấy rằng, theo các quy định của pháp luật thì phương pháp để định giá TSTT ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là dựa trên phương pháp chi phí quá khứ. Ưu điểm của phương pháp này là làm cho TSTT xuất hiện trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp với tư cách là một tài sản được hạch toán, do đó góp phần nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về giá trị kinh tế của TSTT. Tuy nhiên, phương pháp chi phí lại bộc lộ khá nhiều nhược điểm khiến cho phương pháp này không được áp dụng phổ biến trong thực tiễn định giá TSTT. Nhược điểm lớn nhất là chỉ sử dụng một yếu tố (yếu tố chi phí) để xác định giá trị của TSTT và hoàn toàn không xem xét tới lợi ích kinh tế tương lai mà TSTT đó có khả năng mang lại. Do đó, việc định giá TSTT chỉ dựa vào các chi phí trong quá khứ để tạo ra/phát triển TSTT là chưa thực sự đánh giá được tiềm năng kinh tế tương lai của TSTT đó.

    5. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về định giá TSTT

    Bản chất của việc định giá TSTT là sự thỏa thuận về giá trị của TSTT giữa hai bên chủ thể tham gia định giá và là quan hệ dân sự/kinh tế do đó pháp luật không thể can thiệp quá sâu vào việc định giá song Nhà nước cần phải đưa ra được những quy định về định giá TSTT để hướng dẫn thực hiện việc định giá TSTT. Một Nghị định của Chính phủ quy định về việc định giá TSTT không chỉ giải quyết được những mâu thuẫn và bất cập trong các văn bản về định giá TSTT mà còn là chuẩn mực để việc định giá TSTT trong thời gian tới được đồng bộ hơn. Đối tượng điều chỉnh của Nghị định này là những loại TSTT được pháp luật về SHTT bảo hộ và có thể chuyển giao được trong các giao dịch dân sự. Sau đây, tác giả xin đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện các quy định pháp luật về định giá TSTT:

    5.1. Quy định về các loại TSTT không được định giá:

    5.1.1. Các TSTT không được phép định giá khi chuyển nhượng quyền sở hữu TSTT

    + Chỉ dẫn địa lý: chỉ dẫn địa lý thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Việt Nam và không thể chuyển nhượng quyền sở hữu.

    + Tên thương mại: không được định giá nếu việc chuyển nhượng tên thương mại đó không đi kèm với toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó.

    5.1.2. Các TSTT không được phép định giá khi chuyển quyền sử dụng TSTT

    + Chỉ dẫn địa lý: vì quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý không thể chuyển giao.

    + Tên thương mại: vì quyền sử dụng tên thương mại không thể chuyển giao.

    + Nhãn hiệu tập thể (trong trường hợp định giá nhãn hiệu tập thể nhằm mục đích chuyển quyền sử dụng cho các tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó).

    5.1.3. Các TSTT không được phép định giá khi nhượng quyền thương mại

    Bản chất của nhượng quyền thương mại là bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền sử dụng “quyền thương mại” của mình trong kinh doanh. Theo quy định của Khoản 1 Điều 284 Luật Thương mại, khi nhượng quyền thương mại thì chỉ có các TSTT như nhãn hiệu, tên thương mại  bí mật kinh doanh là một bộ phận hợp thành“quyền thương mại” và được phép định giá. Theo tác giả, ngoài các TSTT nói trên được phép định giá khi nhượng quyền thương mại thì kiểu dáng công nghiệp  sáng chế cũng là một TSTT có thể định giá được khi tiến hành các hoạt động nhượng quyền thương mại. Như vậy, ngoài các TSTT là nhãn hiệu, tên thương mại  bí mật kinh doanh, kiểu dáng công nghiệp  sáng chế thì các đối tượng khác của quyền SHTT sẽ không được định giá khi nhượng quyền thương mại.

    5.1.4. Các TSTT không được phép định giá khi góp vốn

    Để góp vốn bằng TSTT thì người góp vốn phải là chủ sở hữu của TSTT đó. Có 2 hình thức góp vốn bằng TSTT đó là: góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu TSTT và góp vốn bằng quyền sử dụng TSTT. Những TSTT sau sẽ không được phép được định giá để góp vốn:

    + Chỉ dẫn địa lý

    + Tên thương mại (trong trường hợp định giá để góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu tên thương mại không kèm theo cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng tên thương mại).

    Bên cạnh việc định giá TSTT nhằm những mục đích trên đây thì việc định giá TSTT cũng nhằm những mục đích khác như: xác định giá trị của doanh nghiệp (trong đó có xác định giá trị của TSTT) để cổ phần hóa (đối với các doanh nghiệp Nhà nước); mua bán, sáp nhập, hợp nhất, chia tách, tái cấu trúc doanh nghiệp; tiến hành các thủ tục phá sản; phát hành cổ phiếu ra công chúng, quản lý TSTT, xác định mức độ thiệt hại trong tranh chấp về TSTT… thì việc coi TSTT nào là TSCĐ vô hình của doanh nghiệp. Theo tác giả cần phải quy định rõ:

    - Những TSTT được coi là TSCĐ vô hình của doanh nghiệp là: tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa; sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, bí mật kinh doanh, tên thương mại; vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.

    - Không nên quy định giá trị “thương hiệu” là căn cứ để xác định giá trị của doanh nghiệp khi cổ phần hóa như tại Thông tư 202/2011/TT-BTC. Để phù hợp với quy định của Luật SHTT thì nên quy định giá trị của “tên thương mại”  “nhãn hiệu” là căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa vì “thương hiệu” không phải là một đối tượng của quyền SHTT.

    5.2. Quy định về chủ thể có quyền định giá TSTT

    Định giá TSTT là các giao dịch dân sự/kinh tế do đó chủ thể định giá sẽ là những bên tham gia giao dịch này. Các bên có thể tự thỏa thuận định giá hoặc thuê các tổ chức định giá chuyên nghiệp theo sự thỏa thuận của các bên. Tuy nhiên, đối với việc định giá các TSTT của các doanh nghiệp Nhà nước, tác giả xin đề xuất việc định giá này nên trao cho một tổ chức định giá chuyên nghiệp để đảm bảo được tính chính xác tối đa khi tiến hành định giá. Ngoài ra, cũng cần quy định chế tài đối với các tổ chức định giá khi định giá TSTT cao hoặc thấp hơn giá trị thực tế của TSTT đó.

    5.3. Quy định về các phương pháp định giá tài sản trí tuệ

    Việc định giá TSTT thường sử dụng 3 phương pháp phổ biến: chi phí, thu nhập và thị trường. Do đó, trong Nghị định quy định về định giá TSTT cũng cần quy định về các loại phương pháp định giá trên, các trường hợp áp dụng, ưu điểm và hạn chế khi áp dụng của từng phương pháp định giá TSTT. Do bản chất của việc định giá là sự thỏa thuận về giá giữa các bên chủ thể tham gia định giá do đó pháp luật cần quy định các bên có thể lựa chọn các phương pháp khác ngoài 3 phương pháp trên để có thể định giá TSTT.

    Để việc định giá TSTT được chính xác thì cần phải xem xét đến các yếu tố: yếu tố “độc quyền” hay “không độc quyền” khi chuyển quyền sử dụng TSTT; các TSTT của các đối thủ cạnh tranh tương ứng với các TSTT đang được tiến hành định giá đang có trên thị trường (bao gồm thị trường trong nước và thị trường ngoài nước) và sẽ có trên thị trường; quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhập khẩu song song [13]; hệ số cạnh tranh (cạnh tranh trực tiếp, cạnh tranh gián tiếp) vì hệ số cạnh tranh sẽ tỷ lệ nghịch với giá được định.

    So với việc định giá các tài sản hữu hình, định giá TSTT là một hoạt động phức tạp bởi bản chất vô hình của TSTT. Ngay cả nhiều các quốc gia khác trên thế giới vẫn chưa có một quy định pháp luật riêng về định giá TSTT mà mới chỉ dừng lại ở việc quy định về định giá tài sản vô hình do đó, các ý kiến đề xuất của tác giả trên đây mới chỉ là những gợi ý bước đầu để khắc phục những bất cập về định giá TSTT ở Việt Nam. Việc xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật về định giá TSTT là một quá trình lâu dài và cần sự tham vấn của các nhà chuyên môn để văn bản pháp luật trên được hoàn thiện hơn.

     

     

  • 03/12/2013, 12:24:41 SA | Trong chuyên mục Tình huống pháp lý tham khảo

    luatnvs1
    luatnvs1
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/11/2013
    Tổng số bài viết (116)
    Số điểm: 1056
    Cảm ơn: 15
    Được cảm ơn 16 lần


     


    Do có mâu thuẫn từ trước vì tranh chấp đất đai, sáng 31-7-2010, giữa gia đình bà DTDT và vợ chồng ông NHM (cùng ngụ huyện Mang Thít, Vĩnh Long) đã xảy ra cự cãi, xô xát.
    Trong lúc hai bên xô xát, con gái của ông M. đã dùng dao đâm bà T.

     

    Theo kết quả giám định, bà T. bị tổn hại sức khỏe 45%. Tuy nhiên, Công an huyện Mang Thít không khởi tố con gái của ông M. vì người này bị bệnh tâm thần, chỉ áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau đó, TAND huyện Mang Thít cũng ra quyết định tuyên bố con gái của ông M. bị mất năng lực hành vi dân sự.

    Tháng 5-2011, bà T. đã gửi đơn đến TAND huyện Mang Thít khởi kiện vợ chồng ông M. đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại. Theo bà T., thương tật của bà do con gái của ông M. gây ra nhưng người này bị mất năng lực hành vi dân sự nên vợ chồng ông M. (người giám hộ của người bệnh) phải bồi thường tổng cộng gần 80 triệu đồng.

    Trong các buổi hòa giải, vợ chồng ông M. không chịu bồi thường, nại rằng bà T. có lỗi là đánh con gái của ông bà trước. Việc con gái của ông bà có dùng dao đâm bà T. hay không vợ chồng ông bà cũng không biết. Hơn nữa, con gái của ông bà đã hơn 18 tuổi nên ông bà không phải chịu trách nhiệm với hành vi của con. Mặt khác, cô này lại bị mất năng lực hành vi dân sự nên phải được miễn trách nhiệm bồi thường mới đúng…

    Mới đây, TAND huyện Mang Thít đã đưa vụ kiện ra xử sơ thẩm. Theo tòa, công an đã xác định việc con gái của ông M. dùng dao đâm vào ngực bà T. gây thương tật 45% là có thật. Xét việc bà T. yêu cầu vợ chồng ông M. phải bồi thường thiệt hại cho bà là có căn cứ. Bởi lẽ tại thời điểm gây thương tích cho bà T. cũng như hiện nay, con gái của ông M. là người bị mất năng lực hành vi dân sự, chưa có chồng và cũng không có tài sản riêng. Theo quy định thì vợ chồng ông M. là người giám hộ nên phải chịu trách nhiệm dân sự với hành vi của con mình.

    Tuy nhiên, trong số tiền mà bà T. yêu cầu vợ chồng ông M. phải bồi thường có những khoản chi phí chưa phù hợp nên tòa chỉ chấp nhận các khoản chi phí hợp lý, tổng cộng là hơn 60 triệu đồng.

    Sau khi phiên xử kết thúc, vợ chồng ông M. đã làm đơn kháng cáo vì không phục phán quyết của tòa sơ thẩm.

     

     

  • 02/12/2013, 06:50:50 CH | Trong chuyên mục Thuế - Phí - Lệ phí

    mrvanthuc
    mrvanthuc
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/04/2009
    Tổng số bài viết (774)
    Số điểm: 11146
    Cảm ơn: 148
    Được cảm ơn 658 lần
    Moderator

    Ngày 15 tháng 11 năm 2013 Bộ Tài Chính ban hành thông tư 166/2013/TT-BTC hướng dẫn chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính về thuế

    Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.

    Thông tư này thay thế Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện xử lý vi phạm pháp luật về thuế.

    Áp dụng văn bản xử phạt vi phạm hành chính về thuế

    - Việc xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính về thuế đã xảy ra trước ngày 15 tháng 12 năm 2013 áp dụng theo quy định của pháp luật có hiệu lực thi hành tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm.

    - Áp dụng các quy định về xử phạt; quy định về hoãn thi hành quyết định xử phạt, miễn, giảm tiền phạt vi phạm hành chính về thuế và các quy định về xử phạt khác có lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính về thuế quy định tại Thông tư này đối với hành vi vi phạm hành chính về thuế xảy ra trước ngày 15 tháng 12 năm 2013 mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết.

    - Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế đã được ban hành hoặc đã được thi hành xong trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế còn khiếu nại thì áp dụng quy định của pháp luật có hiệu lực thi hành tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm để giải quyết

  • 02/12/2013, 03:58:07 CH | Trong chuyên mục Vướng mắc pháp lý

    Em hiện là sinh viên năm  4 Đại học và đang nộp giấy tờ để hoàn thành hồ sơ thi tốt nghiệp thì nhà trường có yêu cầu nộp giấy chuyển nghĩa vụ quân sự ,nhưng giấy đấy vào lúc e nhập học thì trong giấy  bào nhập học không yêu cầu nộp và e có điện thoại ra hỏi thì họ cũng bảo k cần phải nộp ,nhưng bắt đầu từ năm nay thì toàn bộ nam sinh viên trong trường phải nộp .Em ra thị trấn từ 2 tuần trước nhưng người làm việc bên quân sự k làm việc vì lí do đi học gì đó,nhưng hôm nay e ra thì họ bảo em làm sai và giấy chuyển đấy e phải chuyển từ 2010 rồi,và kiểm tra sổ sách thì em chưa chuyển và yêu cầu em nộp giấy chứng nhận đăng ký nghĩa vụ quân sự từ 2009 mà e lại làm mất giấy ý lâu rồi,họ bảo như vậy thì không giải quyết cho em nữa ,bây giờ em phải làm thế nào ạ ?

  • 01/12/2013, 12:35:22 SA | Trong chuyên mục Tình huống pháp lý tham khảo

    luatnvs1
    luatnvs1
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/11/2013
    Tổng số bài viết (116)
    Số điểm: 1056
    Cảm ơn: 15
    Được cảm ơn 16 lần


     


    Bà T. khởi kiện công ty tranh chấp về tiền lương và các khoản bảo hiểm chứ không tranh chấp với cá nhân từng thành viên trong hội đồng thành viên công ty.


    Thực tiễn đã phát sinh không ít vụ tranh chấp liên quan đến công ty có thành viên hội đồng là người nước ngoài. Trường hợp nào thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa cấp huyện, trường hợp nào thuộc tòa cấp tỉnh?
    Tháng 3-2011, bà LTHT đã nộp đơn khởi kiện Công ty TNHH DV TM ĐT (viết tắt là Công ty ĐT) ra TAND quận Phú Nhuận để yêu cầu tòa buộc phía Công ty ĐT giải quyết tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho bà với tổng số tiền hơn 260 triệu đồng.

    Tòa quận: Có yếu tố nước ngoài

    Theo đơn khởi kiện, bà T. vào làm tại Công ty ĐT (trụ sở tại phường 9, quận Phú Nhuận) từ năm 2003. Từ đó đến tháng 8-2010, bà T. đã làm việc cho Công ty ĐT với nhiều chức vụ khác nhau. Tháng 9-2010, do đến tuổi nghỉ hưu theo luật định, bà T. đã viết đơn xin nghỉ việc với lý do hết tuổi lao động và yêu cầu Công ty ĐT thanh toán tiền lương, tiền phụ cấp, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ cấp thôi việc nhưng phía công ty không thanh toán. Hòa giải không thành, bà T. buộc lòng phải khởi kiện công ty ra tòa.

    Tháng 3-2011, TAND quận Phú Nhuận đã thụ lý vụ kiện. Sau khi xem xét hồ sơ, tòa phát hiện trong hội đồng thành viên của Công ty ĐT có ông Michael B.L. là người đang định cư tại nước ngoài (California, Mỹ). Theo tòa, bà T. khởi kiện Công ty ĐT nên ông Michael B.L. được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện. Xác định là vụ án có yếu tố nước ngoài và thẩm quyền xét xử thuộc về TAND TP.HCM, tháng 9-2011, tòa đã ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án lên TAND TP.HCM để xét xử theo đúng thẩm quyền.

    Tòa TP: Thẩm quyền thuộc tòa quận

    Tháng 1-2012, TAND TP.HCM đã có quyết định chuyển trả hồ sơ vụ án vì cho rằng thẩm quyền xét xử vẫn thuộc TAND quận Phú Nhuận.

    Theo TAND TP, qua cung cấp thông tin của Sở KH&ĐT TP.HCM, Công ty ĐT, người đại diện theo pháp luật của công ty (giám đốc) là người Việt Nam, có địa chỉ thường trú tại phường 9, quận Phú Nhuận nên có thể xác định vụ án trên là tranh chấp về lao động. Trong đó, bà T. là nguyên đơn khởi kiện người sử dụng lao động là giám đốc Công ty ĐT. Còn ông Michael B.L. chỉ là thành viên trong hội đồng thành viên của Công ty ĐT, không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Nếu có đưa ông Michael B.L. vào tham gia vụ án thì cũng chỉ với tư cách là người làm chứng.
    Tòa nào đúng?

    Luật sư Lưu Văn Tám (Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) nhận xét: Trong trường hợp này, thẩm quyền xét xử vẫn thuộc về tòa quận. Bởi lẽ bà T. khởi kiện Công ty ĐT tranh chấp về tiền lương và các khoản bảo hiểm chứ không tranh chấp với cá nhân từng thành viên trong hội đồng thành viên công ty. Do vậy, bị đơn trong vụ án là công ty do người đại diện theo pháp luật của công ty tham gia tố tụng. Việc trong hội đồng thành viên của công ty có người đang định cư ở nước ngoài không thuộc trường hợp vụ án có yếu tố nước ngoài nên việc tòa quận giải quyết là không sai về mặt thẩm quyền.

    Đồng tình, luật sư Huỳnh Kim Nga (Đoàn Luật sư TP.HCM) phân tích thêm: Trước đây, tất cả vụ án có yếu tố nước ngoài đều được chuyển cho tòa án cấp tỉnh, TP trực thuộc trung ương giải quyết. Nhưng kể từ ngày Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực thì thẩm quyền của TAND cấp quận, huyện đã được nâng lên rất nhiều. Trong một số trường hợp vụ án có yếu tố nước ngoài nhưng không thuộc diện có “đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài” thì TAND cấp quận, huyện vẫn có thể thụ lý, giải quyết.

     

     

  • 01/12/2013, 12:17:16 SA | Trong chuyên mục Tình huống pháp lý tham khảo

    luatnvs1
    luatnvs1
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/11/2013
    Tổng số bài viết (116)
    Số điểm: 1056
    Cảm ơn: 15
    Được cảm ơn 16 lần


     




    Theo luật, việc ủy quyền của cá nhân chấm dứt khi người ủy quyền chết. Tuy nhiên, thực tế lại không đơn giản như vậy. Nhiều tình huống rắc rối đã phát sinh vì người ủy quyền chết nhưng không ai biết…

    Đầu năm 2009, trước khi sang Mỹ, ông TVV đã ủy quyền cho một người bạn thân là ông Q. tham gia một vụ kiện đòi nợ tại TAND tỉnh T. Theo nội dung giấy ủy quyền hợp pháp giữa hai bên, ông Q. được toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan trong vụ kiện, kể cả trong giai đoạn thi hành án.

    Chết nhưng không biết tin

    Sau khi ra nước ngoài, ông V. không hề chủ động liên lạc với ông Q. để hỏi diễn tiến sự việc. Ông Q. cũng không có cách nào trao đổi với bạn vì mọi cách liên lạc từ ngày xưa đều không có kết quả. Vì thế, ông luôn tự quyết các vấn đề liên quan đến vụ kiện theo ý của mình như nội dung ủy quyền. Phía tòa án cũng chỉ làm việc với ông mà không quan tâm đến sự có mặt của ông V.

    Cuối năm 2010, tòa đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa ông Q. và phía bị đơn, nội dung ông Q. đồng ý bớt 1/3 số nợ gốc với điều kiện phía bị đơn phải trả tiền một lần. Sau đó, các bên cũng đã thực hiện thỏa thuận nên vụ việc được khép lại.

    Gần đây, ông Q. nghe loáng thoáng được vài thông tin rằng bạn mình đã chết vì tai nạn giao thông ở Mỹ. Rồi ông nhận được hồ sơ từ Mỹ gửi về xác thực đúng là ông V. đã chết từ giữa năm 2010 tại Mỹ.

    Vụ việc bắt đầu trở nên rắc rối: Theo luật, việc ủy quyền giữa ông V. và ông Q. đương nhiên chấm dứt khi ông V. chết. Ông V. chết vào giữa năm 2010, tức trước thời điểm ông Q. thỏa thuận thành với bị đơn trong vụ kiện đòi nợ (cuối năm này). Vậy quyết định công nhận sự thỏa thuận của tòa có hiệu lực pháp luật hay không khi mà bản thân ông Q. đã mất tư cách đại diện theo ủy quyền? Nếu quyết định của tòa không có căn cứ pháp lý thì khắc phục sai sót này ra sao? Phía bị đơn trong vụ kiện cũng đã thanh toán 2/3 số nợ gốc cho ông Q., phải giải quyết lại cho họ thế nào?
    Một vụ khác, theo nội dung văn bản ủy quyền ký năm 2008 thì bà L. có toàn quyền thay mặt ông H. quyết định mọi vấn đề liên quan trong một vụ kiện tranh chấp quyền sử dụng đất. Sau đó, ông H. sang Trung Quốc làm ăn không thấy trở về và cũng không có liên lạc gì với gia đình cũng như với bà L.

    Trong quá trình giải quyết vụ án sau đó, TAND hai cấp ở tỉnh B. đều tuyên bà L. thắng kiện. Nhưng đến năm 2011, chuẩn bị đến giai đoạn thi hành án thì phát sinh tranh chấp về tài sản trên đất giữa bà L. với người nhà của ông H. Hai bên đều cố gắng liên lạc với ông H. nhưng không thành công. Sau đó, gia đình nhận được tin ông H. đã chết ở Trung Quốc từ lâu vì bị nước lũ cuốn.

    Theo luật, việc đại diện theo ủy quyền của bà L. chấm dứt khi ông H. chết. Vì vậy, các văn bản do cơ quan có thẩm quyền ghi nhận việc tranh chấp tài sản với người nhà ông H. sau này đều do bà L. ký hiện không biết phải giải quyết thế nào…
    Luật chưa dự liệu?

    Từ hai vụ việc trên, vấn đề đặt ra là sau khi người ủy quyền đã chết nhưng người được ủy quyền không biết, vẫn tiến hành công việc ủy quyền thì giá trị pháp lý của những quyết định từ cơ quan có thẩm quyền, quyết định của người được ủy quyền… trong giai đoạn này ra sao? Nếu vô hiệu thì phải giải quyết hậu quả thế nào?

    Theo TS Nguyễn Văn Tiến (giảng viên Trường ĐH Luật TP.HCM), pháp luật về ủy quyền đã quy định quan hệ này chấm dứt hoàn toàn khi một trong hai bên chết. Do đó, về nguyên tắc, sau khi người ủy quyền đã chết, người đại diện có tiến hành bao nhiêu công việc đi nữa thì kết quả cũng không có giá trị pháp lý. Trong trường hợp người đại diện không biết chuyện người ủy quyền chết, tòa cũng không biết và vẫn ra bản án, quyết định và nếu bản án, quyết định đó đã có hiệu lực pháp luật thì vụ việc phải được xem xét lại theo thủ tục tái thẩm.

    Luật sư Dương Tuấn Lộc (Đoàn Luật sư TP.HCM) thì nhận xét: Bộ luật Dân sự chưa dự liệu tình huống này để quy định cụ thể hướng giải quyết. Các cơ quan có thẩm quyền cũng chưa có hướng dẫn. Thực tế không hề đơn giản là mọi quyết định có từ sau khi người ủy quyền chết đều vô hiệu bởi nó còn liên quan đến nhiều bên đương sự khác và việc giải quyết hậu quả pháp lý về sau sẽ rất rắc rối.
     

     

    Trên đây là một số nội dung phản ánh từ thực tiễn .

     

     

     

     

  • 28/11/2013, 02:52:51 CH | Trong chuyên mục Café DanLuat

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3023)
    Số điểm: 65295
    Cảm ơn: 320
    Được cảm ơn 2733 lần


    Sáng nay (28/11/2013), sau khi thông qua Bản Hiến pháp (sửa đổi) Quốc hội đã thông qua Nghị quyết quy định một số điểm thi hành Hiến pháp (sửa đổi). Ngoài quy định Hiến pháp (sửa đổi) có hiệu lực kể từ 1/1/2014 Nghị quyết còn có những điểm nổi bật sau:

    1/ Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước tiếp tục hoạt động cho đến khi Quốc hội khóa XIV bầu ra các cơ quan mới theo quy định của Hiến pháp (sửa đổi).

    2/ Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tiếp tục hoạt động cho đến khi Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân được thành lập theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với Hiến pháp (sửa đổi).

    3/ Những công việc đang được cơ quan nhà nước giải quyết theo quy định của Hiến pháp năm 1992 mà thẩm quyền này được giao cho cơ quan nhà nước khác thực hiện theo quy định của Hiến pháp (sửa đổi) thì phải chuyển giao cho cơ quan nhà nước đó để tiếp tục giải quyết, kể từ ngày Hiến pháp này có hiệu lực.

    4/ Các luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác được ban hành trước ngày Hiến pháp (sửa đổi) có hiệu lực phải được rà soát lại để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới phù hợp với Hiến pháp (sửa đổi).

    5/ Việc sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Kiểm toán Nhà nước, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân và ban hành mới Luật tổ chức chính quyền địa phương phải được trình Quốc hội xem xét, thông qua chậm nhất là vào kỳ họp thứ 10 (tháng 10 năm 2015).

    Tải File đính kèm bên dưới.

  • 26/11/2013, 04:21:30 CH | Trong chuyên mục Thuế - Phí - Lệ phí

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3023)
    Số điểm: 65295
    Cảm ơn: 320
    Được cảm ơn 2733 lần


    Từ 15/12/2013, hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn từ 1 đến 5 ngày sẽ bị phạt từ 400.000 – 1.000.000 đồng nếu không có tình tiết giảm nhẹ (có tình tiết giảm nhẹ thì bị phạt cảnh cáo).

    Nội dung trên được quy định tại Nghị định 129/2013/NĐ-CP, ngoài ra Nghị định còn có những điểm đáng lưu ý sau:

    1/ Nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn từ trên 5 đến 10 ngày bị phạt từ 400.000 – 1.000.000 đồng;

    2/ Nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn từ trên 10 đến 20 ngày bị phạt từ 800.000 – 2.000.000 đồng;

    3/ Nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn từ trên 20 ngày đến 30 ngày bị phạt từ 1.200.000 – 3.000.000 đồng;

    4/ Nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn từ trên 30 ngày đến 40 ngày bị phạt từ 1.600.000 – 4.000.000 đồng;

    5/ Phạt từ 2.000.000 – 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

    + Nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ trên 40 - 90 ngày.

    + Nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định trên 90 ngày nhưng không phát sinh số thuế phải nộp.

    + Không nộp hồ sơ khai thuế nhưng không phát sinh số thuế phải nộp.

    + Nộp hồ sơ khai thuế tạm tính theo quý quá thời hạn quy định trên 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế nhưng chưa đến thời hạn nộp hồ sơ khai quyết toán thuế.

    Như vậy, Nghị định 129 đã xử phạt kể cả trường hợp nộp hồ sơ khai thuế chậm dưới 5 ngày, đồng thời các mức phạt của Nghị định này cũng cao hơn trước.

  • 26/11/2013, 11:57:01 SA | Trong chuyên mục Tặng nhau Văn bản Luật

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3023)
    Số điểm: 65295
    Cảm ơn: 320
    Được cảm ơn 2733 lần


    Ủy ban thường vụ quốc hội vừa ban hành Nghị quyết 670a/2013/UBTVQH13 về việc sửa đổi tỷ lệ phần trăm được trích, được sử dụng từ số tiền do Kiểm toán Nhà nước phát hiện và kiến nghị trong Nghị quyết 794.

    Theo đó, Kiểm toán Nhà nước được trích 5% (quy định hiện hành là 2%) số tiền do Kiểm toán Nhà nước phát hiện và kiến nghị, bao gồm:

    - Khoản tăng thu ngân sách nhà nước về thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác đã nộp ngân sách nhà nước;

    - Khoản chi ngân sách sai chế độ đã nộp lại ngân sách nhà nước;

    - Khoản chi ngân sách sai chế độ đã xử lý giảm chi, giảm thanh toán vào ngân sách năm sau.

    Kiểm toán Nhà nước được sử dụng số kinh phí 5% để chi cho các nội dung sau:

    - Khuyến khích, thưởng cho cán bộ, công chức và người lao động của Kiểm toán Nhà nước không vượt quá 0,8 lần lương cấp bậc, phụ cấp chức vụ, vượt khung và phụ cấp nghề nghiệp;

    - Kinh phí còn lại sau khi chi khuyến khích, thưởng cho cán bộ, công chức và người lao động của Kiểm toán Nhà nước được sử dụng để đầu tư cơ sở vật chất và tăng cường năng lực hoạt động của ngành.

    Nghị quyết này có hiệu lực từ 01/12/2013.

  • 25/11/2013, 02:40:09 CH | Trong chuyên mục Café DanLuat

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3023)
    Số điểm: 65295
    Cảm ơn: 320
    Được cảm ơn 2733 lần


    > Nghị định 171 – các lỗi và mức phạt dành cho xe mô tô và ô tô

    Hiện tại việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ được áp dụng bằng Nghị định 34/2010/NĐ-CP71/2012/NĐ-CP, theo đó mức phạt dành cho các lỗi vi phạm giao thông đường bộ buộc phải tuân theo hai Nghị định này.

    Vừa qua, Chính phủ ban hành Nghị định 171/2013/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 34, 71 và có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2014.

    Điều đáng quan tâm là Nghị định 34, 71 có quy định về việc “ÁP DỤNG THÍ ĐIỂM ĐỐI VỚI MỘT SỐ VI PHẠM TRONG KHU VỰC NỘI THÀNH CỦA CÁC THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG” còn Nghị định 171 thì không.

    Phải chăng từ ngày 1/1/2014, vi phạm giao thông ở nội thành thành phố trực thuộc trung ương chỉ bị phạt như vi phạm ở khu vực khác?

    Nghị định 171 không còn quy định riêng về xử phạt vi phạm trong khu vực nội thành là hoàn toàn phù hợp với Luật xử phạt vi phạm hành chính 2012 (có hiệu lực kể từ 01/07/2013). Bởi Quốc hội đã trao thẩm quyền quyết định khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt cụ thể đối với hành vi vi phạm trong các lĩnh vực giao thông đường bộ cho Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương.

    Theo đó, Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào khung tiền phạt và mức tiền phạt tại Nghị định 171, yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương có thể có thể quyết định khung tiền và mức phạt cao hơn nhưng tối đa không quá 2 lần mức phạt chung áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm.

    Điều 23. Phạt tiền

    1. Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 24 của Luật này.

    Đối với khu vực nội thành của thành phố trực thuộc trung ương thì mức phạt tiền có thể cao hơn, nhưng tối đa không quá 02 lần mức phạt chung áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm trong các lĩnh vực giao thông đường bộ; bảo vệ môi trường; an ninh trật tự, an toàn xã hội.

    3. Căn cứ vào hành vi, khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt được quy định tại nghị định của Chính phủ và yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương, Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương quyết định khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt cụ thể đối với hành vi vi phạm trong các lĩnh vực quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều này.

    Như vậy, trong thời gian sắp tới Hội đồng nhân dân các thành phố trực thuộc trung ương sẽ có văn bản quyết định khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt cụ thể đối với hành vi vi phạm tại khu vực nội thành của thành phố mình.

    Trong trường hợp đến ngày Nghị định 171 có hiệu lực mà các thành phố trực thuộc trung ương chưa ban hành khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt áp dụng riêng cho hành vi vi phạm tại khu vực nội thành của thành phố mình thì tạm thời áp dụng quy định chung của Nghị định 171.

    Tóm lại: Nghị định 171 không có quy định riêng về xử phạt vi phạm tại nội thành thành phố trực thuộc trung ương không đồng nghĩa với việc bỏ quy định này mà là áp dụng theo văn bản của Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương.

  • 23/11/2013, 10:27:09 CH | Trong chuyên mục Tặng nhau Văn bản Luật

    Kính mong LS tư vấn cho tôi về các văn bản pháp luật quy định về việc nhập khẩu oto độ...Thuế nhập khẩu và thủ tục đăng kiểm,sở hữu xe.Tôi là công dân Việt Nam!

  • 21/11/2013, 04:23:40 CH | Trong chuyên mục Tặng nhau Văn bản Luật

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3023)
    Số điểm: 65295
    Cảm ơn: 320
    Được cảm ơn 2733 lần


    Chính phủ vừa ban hành Nghị định 187/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài.

    Nghị định này có hiệu lực kể từ 20/02/2014 và thay thế Nghị định 12/2006/NĐ-CP.

    Theo đó, có sự thay đổi về:

    I/ Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu

    1/Hàng hóa cấm xuất khẩu:

    STT

    Mô tả hàng hóa

    1

    Vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ (trừ vật liệu nổ công nghiệp), trang thiết bị kỹ thuật quân sự.

    (Bộ Quốc phòng công bố danh mục cụ thể và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    2

    a) Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc sở hữu Nhà nước, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội.

    b) Các loại văn hóa phẩm thuộc diện cấm hoặc đã có quyết định đình chỉ phổ biến và lưu hành tại Việt Nam.

    (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn thực hiện, công bố danh mục cụ thể các Điểm a, b nêu trên và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    3

    a) Các loại xuất bản phẩm thuộc diện cấm phổ biến và lưu hành tại Việt Nam.

    b) Tem bưu chính thuộc diện cấm kinh doanh, trao đổi, trưng bày, tuyên truyền theo quy định của Luật Bưu chính.

    (Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn thực hiện, công bố danh mục cụ thể các Điểm a, b nêu trên và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    4

    Gỗ tròn, gỗ xẻ các loại từ gỗ rừng tự nhiên trong nước.

    (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện, công bố danh mục cụ thể và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    5

    a) Động vật, thực vật hoang dã quý hiếm và giống vật nuôi, cây trồng quý hiếm thuộc nhóm IA-IB theo quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và động vật, thực vật hoang dã quý hiếm trong "sách đỏ" mà Việt Nam đã cam kết với các tổ chức quốc tế.

    b) Các loài thủy sản quý hiếm.

    c) Giống vật nuôi và giống cây trồng thuộc Danh mục giống vật nuôi quý hiếm và giống cây trồng quý hiếm cấm xuất khẩu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành theo quy định của Pháp lệnh Giống vật nuôi năm 2004 và Pháp lệnh Giống cây trồng năm 2004.

    (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố danh mục cụ thể từ Điểm a đến Điểm c nêu trên và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    6

    Các sản phẩm mật mã sử dụng để bảo vệ thông tin bí mật Nhà nước. (Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện).

    7

    a) Hóa chất độc Bảng 1 được quy định trong Công ước cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học và Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Nghị định số100/2005/NĐ-CP ngày 03 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ về thực hiện Công ước cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học.

    b) Hóa chất thuộc Danh mục hóa chất cấm quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định số 108/2008/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hóa chất.

    (Bộ Công Thương công bố danh mục cụ thể các Điểm a, b nêu trên và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    2/Hàng hóa cấm nhập khẩu:

    STT

    Mô tả hàng hóa

    1

    Vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ (trừ vật liệu nổ công nghiệp), trang thiết bị kỹ thuật quân sự.

    (Bộ Quốc phòng công bố danh mục cụ thể và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    2

    Pháo các loại (trừ pháo hiệu an toàn hàng hải theo hướng dẫn của Bộ Giao thông vận tải), đèn trời, các loại thiết bị gây nhiễu máy đo tốc độ phương tiện giao thông.

    (Bộ Công an hướng dẫn thực hiện, công bố danh mục cụ thể và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    3

    Hàng tiêu dùng đã qua sử dụng, bao gồm các nhóm hàng:

    a) Hàng dệt may, giày dép, quần áo.

    b) Hàng điện tử.

    c) Hàng điện lạnh.

    d) Hàng điện gia dụng.

    đ) Thiết bị y tế.

    e) Hàng trang trí nội thất.

    g) Hàng gia dụng bằng gốm, sành sứ, thủy tinh, kim loại, nhựa, cao su, chất dẻo và các chất liệu khác.

    (Bộ Công Thương cụ thể hóa mặt hàng từ Điểm a đến Điểm g nêu trên và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    h) Hàng hóa là sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng.

    (Bộ Thông tin và Truyền thông công bố danh mục cụ thể và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    4

    a) Các loại xuất bản phẩm cấm phổ biến và lưu hành tại Việt Nam,

    b) Tem bưu chính thuộc diện cấm kinh doanh, trao đổi, trưng bày, tuyên truyền theo quy định của Luật Bưu chính.

    c) Thiết bị vô tuyến điện, thiết bị ứng dụng sóng vô tuyến điện không phù hợp với các quy hoạch tần số vô tuyến điện và quy chuẩn kỹ thuật có liên quan theo quy định của Luật Tần số vô tuyến điện.

    (Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn thực hiện, công bố danh mục cụ thể từ Điểm a đến Điểm c nêu trên và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    5

    Các loại văn hóa phẩm thuộc diện cấm phổ biến và lưu hành hoặc đã có quyết định đình chỉ phổ biến và lưu hành tại Việt Nam.

    (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn thực hiện, công bố danh mục và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    6

    a) Phương tiện vận tải tay lái bên phải (kể cả dạng tháo rời và dạng đã được chuyển đổi tay lái trước khi nhập khẩu vào Việt Nam), trừ các loại phương tiện chuyên dùng có tay lái bên phải hoạt động trong phạm vi hẹp và không tham gia giao thông gồm: xe cần cẩu; máy đào kênh rãnh; xe quét đường, tưới đường; xe chở rác và chất thải sinh hoạt; xe thi công mặt đường; xe chở khách trong sân bay; xe nâng hàng trong kho, cảng; xe bơm bê tông; xe chỉ di chuyển trong sân golf, công viên.

    b) Các loại ô tô và bộ linh kiện lắp ráp ô tô bị tẩy xóa, đục sửa, đóng lại số khung, số động cơ.

    c) Các loại mô tô, xe máy chuyên dùng, xe gắn máy bị tẩy xóa, đục sửa, đóng lại số khung, số động cơ.

    (Bộ Giao thông vận tải công bố danh mục cụ thể từ Điểm a đến Điểm c nêu trên và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    7

    Vật tư, phương tiện đã qua sử dụng, gồm:

    a) Máy, khung, săm, lốp, phụ tùng, động cơ của ô tô, máy kéo và xe gắn máy.

    b) Khung gầm của ô tô, máy kéo có gắn động cơ (kể cả khung gầm mới có gắn động cơ đã qua sử dụng và hoặc khung gầm đã qua sử dụng có gắn động cơ mới).

    c) Ô tô các loại đã thay đổi kết cấu để chuyển đổi công năng so với thiết kế ban đầu hoặc bị tẩy xóa, đục sửa, đóng lại số khung, số động cơ.

    d) Ô tô cứu thương.

    (Bộ Giao thông vận tải công bố danh mục cụ thể từ Điểm a đến Điểm d nêu trên và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    đ) Xe đạp.

    e) Mô tô, xe gắn máy.

    (Bộ Công Thương công bố danh mục cụ thể từ Điểm đ đến Điểm e nêu trên và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    8

    Hóa chất trong Phụ lục III Công ước Rotterdam.

    (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, căn cứ phạm vi trách nhiệm được giao, công bố danh mục cụ thể và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    9

    Thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng tại Việt Nam.

    (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố danh mục cụ thể và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    10

    Phế liệu, phế thải, thiết bị làm lạnh sử dụng C.F.C.

    (Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố danh mục cụ thể và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    11

    Sản phẩm, vật liệu có chứa amiăng thuộc nhóm amfibole.

    (Bộ Xây dựng công bố danh mục cụ thể và ghi rõ mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    12

    a) Hóa chất độc Bảng 1 được quy định trong Công ước cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học và Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Nghị định số 100/2005/NĐ-CP ngày 03 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ về thực hiện Công ước cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học.

    b) Hóa chất thuộc Danh mục hóa chất cấm quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định số 108/2008/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hóa chất.

    (Bộ Công Thương công bố danh mục cụ thể các Điểm a, b nêu trên và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

    II/ Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép và thuộc diện quản lý chuyên ngành

  • 19/11/2013, 10:06:06 SA | Trong chuyên mục Tặng nhau Văn bản Luật

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Lớp 12

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (1959)
    Số điểm: 20294
    Cảm ơn: 646
    Được cảm ơn 773 lần


    Ngày 7/11 vừa qua, Việt Nam vừa ký tham gia Công ước chống tra tấn 1984 tại trụ sở Liên Hiệp Quốc.

    Phát biểu sau lễ ký kết tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ngày 07/11, đại sứ Lê Hoài Trung, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực của Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, đã tuyên bố rằng việc ký Công ước này thể hiện cam kết mạnh mẽ của Nhà nước Việt Nam chống lại mọi hành vi tra tấn và đối xử tàn bạo, bảo đảm ngày càng tốt hơn tất cả các quyền cơ bản của con người.
     
    Theo lời ông Lê Hoài Trung, việc tham gia Công ước chống tra tấn sẽ tạo thêm điều kiện để Việt Nam  hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người tại Việt Nam.
     
    Nay chia sẽ đến các bạn nội dung của Công ước này bằng tiếng anh và việt để mọi người tham khảo.
     

    CÔNG ƯỚC CHỐNG TRA TẤN VÀ CÁC HÌNH THỨC TRỪNG PHẠT HAY ĐỐI XỬ TÀN ÁC, VÔ NHÂN ĐẠO HOẶC HẠ NHỤC, 1984

    (Được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10/12/1984 theo Nghị quyết 39/46. Có hiệu lực từ ngày 26/6/1987, theo Điều 27(1)).

    Các Quốc gia thành viên Công ước này,

    Xét rằng, theo những nguyên tắc được tuyên bố trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, việc công nhận các quyền bình đẳng và không thể chuyển nhượng của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình trên thế giới,

    Thừa nhận rằng, những quyền đó xuất phát từ nhân phẩm vốn có của con người,

    Xét nghĩa vụ của các quốc gia theo Hiến chương, cụ thể theo Điều 55, là thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ chung các quyền và tự do cơ bản của con người,

    Xét Điều 5 của Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người và Điều 7 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, trong đó cả hai điều đều quy định rằng, không ai phải chịu tra tấn hoặc đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm.

    Cũng xét đến Tuyên bố về bảo vệ mọi người không bị tra tấn, đối xử hay hình phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm, được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 9/12/1975,

    Mong muốn cuộc đấu tranh chống tra tấn và đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm được hiệu quả hơn,

    Đã thoả thuận như sau:

     

  • 15/11/2013, 05:02:36 CH | Trong chuyên mục Tặng nhau Văn bản Luật

    buixuan1402
    buixuan1402

    Female
    Sơ sinh

    Đăk Lăk, Việt Nam
    Tham gia:11/04/2012
    Tổng số bài viết (3)
    Số điểm: 30
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Hiện nay, tôi đang cần soạn thảo một số vấn đề có liên quan đến quy định về quy chế sử dụng, điều kiện thay thế phụ tùng, quy định về tiêu hao định mức nhiên liệu của xe phòng cháy, chữa cháy nhưng hiện chưa tìm được tài liệu tham khảo. Kính mong nhận đượ sự giúp đỡ của Luật sư và cộng đồng Dân Luật.

     

  • 15/11/2013, 11:42:24 SA | Trong chuyên mục Kế toán - Kiểm toán

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Lớp 12

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (1959)
    Số điểm: 20294
    Cảm ơn: 646
    Được cảm ơn 773 lần


     
    Khi làm kế toán tiền lương kế toán không tránh khỏi những sai sót. Chính vì thế người làm kế toán nên biết các vấn đề này để tránh nhé kẻo làm sai lại ảnh hường đến mình và công ty
     
    Kế toán tiền lương là việc hạch toán tiền lương dựa vào các yếu tố như: Bảng chấm công, bảng theo dõi công tác, phiếu làm thêm giờ, hợp đồng lao động, hợp đồng khoán vì vậy đòi hỏi người kế toán phải thật sự chính xác, tỉ mỉ, chỉ cần một sai xót nhỏ cũng có thể ảnh hưởng lớn tới doanh nghiệp, dưới đây là những điều cần tránh khi thực hiện tác nghiệp hoặc hoàn thiện các thủ tục chứng từ kế toán tiền lương.
     
    1. Về chứng từ
     
    - Các mẫu chứng từ ghi chép không đúng mẫu hoặc đúng mẫu nhưng ghi chép không đúng quy định, ghi thiếu các yếu tố trên mẫu chứng từ, thiếu chữ ký của các cá nhân có liên quan: Mẫu phiếu thu, phiếu chi không đúng mẫu, các phiếu chu, phiếu chi không được đánh số liên tục trong năm mà đánh theo tháng, phiếu chi thiếu định khoản kế toán, thiếu chữ ký của các cá nhân có liên quan trong đó phiếu chi quan trọng nhất là chữ ký người nhận tiền, phiếu thu quan trọng nhất là chữ ký của thủ quỹ; không ghi dòng “ Đã nhận đủ số tiền viết bằng chữ”, dòng “ Chứng từ gốc kèm theo”
     
    - Các chứng từ gốc kèm theo chưa đảm bảo tính hợp lý, hợp lệ
     
    - Một số khoản chi trên 100.000 đồng không có Hóa đơn tài chính
     
    - Các khoản chi thuộc nguồn quỹ khen thưởng, phúc lợi..; không phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh, đơn vị hạch toán vào chi phí như chi ngày 8.3, chi cho tài trợ, ủng hộ, khen thưởng cá nhân trong công ty…-> PhảI điều chỉnh lấy từ quỹ
     
    - Các khoản chi lớn không có hóa đơn tài chính )..> cần thống kê để loại ra khỏi chi phí hợp lý hợp lệ khi tính thuế như:
    + Thanh toán chi khoán tiền điện thoại chỉ có danh sách ký nhận, không có hóa đơn kèm theo..> đúng ra phải có hóa đơn tài chính, còn việc khoán chỉ là căn cứ để khống chế mức chi thôi
    + Chi phí thuê nhà của cá nhân không có hóa đơn tài chính (mặc dù nó là chi phí thực tế của doanh nghiệp
    + Thanh toán chi phí qua qua thẻ Mastercard chỉ kèm sao kê của Ngân hàng, không có chứng từ gốc kèm theo
    ….
    - Các chứng từ gốc kèm theo chưa đảm bảo tính logic về mặt thời gian
    - Ngày trên hóa đơn trước ngày viết Tờ trình
    - Ngày trên Đề nghị thanh toán sau ngày Hóa đơn tài chính
    - Ngày tháng trên các hợp đồng, biên bản thanh lý, biên bản nghiệm thu không logic
    - Các chứng từ gốc kèm theo chưa đảm bảo tính đầy đủ
     
    Chi phí cho nhân viên
     
    - Các bảng lương thiếu không có chữ ký của người nhận tiền.
    - Một số khoản chi công tác phí khoán chi theo danh sách ký nhận không có diễn giải thể hiện đi công tác lưu động trên 15 ngày/háng
    - Chi ăn ca theo mức cố định tháng hoặc chi ăn ca theo số ngày/ đơn giá nhưng không có bảng chấm công lưu kèm
    - Chi làm thêm giờ không có giấy báo làm thêm giờ
    - Chi từ Quỹ Dự phòng mất việc làm cho đào tạo tại chức CBNV, không có tài liệu giải trình về sự thay đổi công nghệ dẫn đến người lao động bị mất việc làm.
     
    Chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu
     
    - Bảng kê thu mua hàng nông sản chưa ghi chưa đầy đủ địa chỉ, số chứng minh thư của người bán hàng
    - Thanh toán chi phí xăng dầu thanh toán trên cơ sở thực chi ghi trên theo hóa đơn tài chính, không có định mức
    Chi phí dịch vụ mua ngoài
    - Chi sửa chữa vật dụng hỏng không có giấy báo hỏng, chi phí sửa chữa xe không có biên bản xác nhận tình trạng kỹ thuật của tài sản trước khi đưa vào sửa chữa, không có tờ trình xin duyệt kinh phí, chỉ có hóa đơn tài chính.
    - Chi sửa chữa lớn không có biên bản bàn giao đưa vào sử dụng
    - Chi sửa chữa lớn đó ghi nhận vào tăng nguyên giá TSCĐ nhưng không có Biên bản đánh giá của bộ phận kế toán về thời gian sử dụng ước tính của tài sản sau sửa chữa là cơ sở trích khâú hao của đơn vị
    - Chi đào tạo học nghiệp vụ thiếu Quyết định cử di học, Chương trình kế hoạch học tập làm việc, chỉ có đề nghị thanh toán và hóa đơn tài chính
     
    Chi phí bằng tiền
     
    - Chi phí cấp phát quà tết không có danh sách đính kèm
    - Khoản chi hội nghị khách hàng không có danh sách khách hàng mời đính kèm
    - Một số khoản chi hội thảo, hội nghị thiếu danh sách đại biểu, các khoản chi tiền bồi dưỡng cho đại biểu dự họp, hội nghị không có ký nhận của từng người mà chỉ có tờ trình xin thanh toán của bộ phận văn phòng.
    - Chứng từ xin thanh toán chi phí tiếp khách không thể hiện rõ tiếp khách nào
     
    Thanh toán công nợ
     
    - Đơn vị thực hiện chi trả tiền hàng cho bên thứ 3 không phải là đại diện theo pháp luật của người cung cấp hàng hóa cũng như không có giấy ủy quyền của người cung cấp hàng hóa và dịch vụ
    - Chi tiếp khách không ghi rõ tiếp khách nàu
     
    Việc ký kết hợp đồng còn chưa đúng theo quy định của pháp luật, chưa chặt chẽ
     
    - Một số hợp đồng khi ký kết hợp đồng kinh tế còn căn cứ theo pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989.
    - Hồ sơ mời thầu không yêu cầu nhà thầu cung cấp các tài liệu đã thực hiện cho gói thầu tương tự để có tiêu chí đánh giá chính xác, … Ngoài ra trong hồ sơ thầu cũng không yêu cầu nhà thầu gửi kèm theo Báo cáo tài chính đã được kiểm toán độc lập hoặc quyết toán thuế của nhà thầu. Trong hồ sơ mời thầu của các gói thầu xây lắp chỉ yêu cầu là “doanh thu, lợi nhuận trước và sau thuế có mức tăng trưởng hoặc duy trì ở mức ổn định” nhưng không nêu rõ cụ thể mức ổn định đó là như thế nào.
    - Ký kết hợp đồng với nhà cung cấp, người ký kết hợp đồng không phải là người đại diện theo pháp luật của nhà cung cấp này, tuy nhiên không có giấy ủy quyền của người đại diện theo pháp luật.
     
    Thực hiện ký kết hợp đồng vượt phân cấp
     
    - Theo Quyết định phân cấp tài chính của đơn vị đối với các đơn vị cấp dưới, có thể ký vượt cấp hoặc hcia nhỏ giá trị hợp đồng.
     
    Chưa ký hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng bổ sung
     
    - Một số hợp đồng đã hết hiệu lực thi hành hoặc các điều khoản hợp đồng không còn phù hợp nhưng các đơn vị vẫn chưa ký lại hoặc ký bổ sung phụ lục hợp đồng.
     
    Chưa thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng
     
    - Một số hợp đồng mua vật tư, hàng hoá trong điều khoản cam kết đã ghi rõ thời gian bên bán phải giao hàng nhưng khi thực hiện bên bán đã giao hàng chậm so với quy định. Tuy nhiên đến khi thanh toán và thanh lý hợp đồng chưa có Biên bản xác nhận nguyên nhân chậm tiến độ và chưa đề cập đến vấn đề vi phạm điều khoản tiến độ thực hiện hợp đồng.
     
    Chưa theo dõi chặt chẽ các hợp đồng
     
    - Một số đơn vị chưa có sổ theo dõi các hợp đồng kinh tế đã ký và tình hình thực hiện các hợp đồng này. Một số hợp đồng hết hiệu lực chưa tổ chức thanh lý theo quy định
     
    2. Về hạch toán
     
    - Hạch toán nội dung không đúng tài khoản đối ứng
    - Hạch toán một số nghiệp vụ không có cơ sở hoặc không kịp thời hoặc bị trùng 2 lần
    - Hạch toán thu tiền và chi trả tiền chưa kịp thời
    - Lập phiếu thu không phù hợp với thời điểm thực tế thu tiền ví dụ
    + Một số đơn vị lập phiếu thu và hạch...

    Theo http://hocketoanthue.org/

  • 15/11/2013, 11:01:11 SA | Trong chuyên mục Theo dòng sự kiện

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3023)
    Số điểm: 65295
    Cảm ơn: 320
    Được cảm ơn 2733 lần


    Ngày 14/10/2013, Ngân hàng Nhà nước có Công văn 7558 yêu cầu các tổ chức tín dụng xem xét thực hiện một số biện pháp tháo gỡ khó khăn liên quan đến điều kiện và thủ tục tín dụng.

    Theo đó, các khoản nợ đến hạn mà khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ, tổ chức tín dụng căn cứ vào khả năng tài chính của mình để xem xét, xử lý theo các biện pháp sau:

    - Miễn, giảm lãi vốn vay;

    - Không thu lãi quá hạn;

    - Ưu tiên thu nợ gốc trước, nợ lãi sau; trường hợp khách hàng đã trả xong nợ gốc thì tổ chức tín dụng thỏa thuận thống nhất với khách hàng để có kế hoạch thu dần.

    Đối với trường hợp khách hàng gặp khó khăn mà có nhiều tổ chức tín dụng đầu tư vốn thì các tổ chức tín dụng phải phối hợp chặt chẽ với nhau và cùng làm việc với khách hàng để thống nhất giải pháp thảo gỡ khó khăn cho khách hàng và đảm bảo hài hòa lợi ích của các tổ chức tín dụng.

    Các giải pháp trên được thực hiện đến 31/12/2013.

  • 13/11/2013, 08:49:51 SA | Trong chuyên mục Theo dòng sự kiện

    ilgod_2007
    ilgod_2007

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:21/10/2013
    Tổng số bài viết (5)
    Số điểm: 310
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Đúng 13h20 phút hôm nay, ngày 12/11, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tổ chức lễ đón chính thức Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin.

    Sau lễ đón chính thức, Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin hội đàm hẹp với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (từ 13h35 đến 14h35). Cũng tại Phủ Chủ tịch, từ 14h35 đến 15h35, Tổng thống Putin tiếp tục hội đàm với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.Sau 15h35 phút sẽ diễn ra Lễ Ký kết các văn kiện giữa hai bên; 16h ông Putin sẽ gặp gỡ báo chí.

    Trước đó lúc 7h30 phút sáng cùng ngày, chuyên cơ chở Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin hạ cánh xuống sân bay Nội Bài (Hà Nội), mở đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam lần thứ 3.

     Lễ đón chính thức Tổng thống Nga Vladimir Putin
    Lễ đón chính thức Tổng thống Nga Putin tại Phủ Chủ tịch
     Lễ đón chính thức Tổng thống Nga Vladimir Putin
     Lễ đón chính thức Tổng thống Nga Vladimir Putin
    IMG 4653 9956a Lễ đón chính thức Tổng thống Nga Vladimir Putin

     

    Nguồn phapluat.net.vn

  • 12/11/2013, 11:34:26 CH | Trong chuyên mục Ngày Pháp luật Việt Nam 09/11

    Dân Luật hưởng ứng ngày “Pháp luật Việt Nam” (09/11/2013)

    Mục tiêu mà Nhà nước muốn hướng tới đó là xây dựng xã hội pháp quyền, nơi pháp luật được đặt vào vị trí thượng tôn, và mọi người hành xử không trái với quy định của pháp luật.

    Như vậy có thể thấy điều kiện tiên quyết của vấn đề chính là sự chấp hành pháp luật của công dân. Để có được sự chấp hành này thì cần hai yếu tố:

    -          Sự hiểu biết pháp luật của mọi người: “mọi người” ở đây bao gồm người làm luật, người thực thi pháp luật và người dân. Rõ ràng không thể nào tuân thủ khi không có hiểu biết về pháp luật. Người dân cần biết pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Người thực thi pháp luật cần biết pháp luật để làm đúng, không để quyền lợi của người dân bị ảnh hưởng bởi sự sai sót của mình. Người làm luật cần hiểu biết pháp luật để khi đặt bút ký thông qua văn bản luật có thể hiểu và dự tính trước những ảnh hưởng của những quy định trong đó, và đảm bảo quy phạm pháp luật đó có tính thực tiễn, áp dụng được vào đời sống. Như vậy việc tuyên truyền pháp luật cần phải nhắm tới toàn bộ mọi người, bên cạnh đó cũng cần bảo đảm chất lượng cho công tác tuyên truyền.

    -          Ý chí tuân thủ pháp luật: một khi mọi người đã biết luật, thì việc có tuân thủ hay không phụ thuộc vào ý chí của họ. Để hướng ý chí mọi người tuân thủ pháp luật thì có các biện pháp là khuyến khích tự giác chấp hành và sử dụng chế tài. Chế tài là cần thiết, nhưng không phải là biện pháp có hiệu quả cao nhất. Ngay cả chuyện đơn giản ai cũng biết như vượt đèn đỏ là phạm luật, vậy mà hễ vắng bóng Cảnh sát giao thông thì nhiều người vẫn cứ vô tư vượt. Việc sợ bị áp dụng chế tài khiến người ta tuân thủ luật, nhưng chỉ cần phát hiện ra khả năng không bị áp dụng chế tài thì họ sẽ vi phạm. Chế tài không đủ mạnh thì không có tác dụng, nhưng mặt khác chế tài mạnh gây ra tâm lý tiêu cực, chống đối khi bị áp dụng chế tài.

    Xét về việc tự giác chấp hành pháp luật, cũng đặt trong điều kiện là đã có hiểu biết về pháp luật, thì tự giác luôn luôn có hiệu quả cao hơn chế tài. Người tự giác sẽ tự động đưa pháp luật ra làm chuẩn để chọn lựa hành vi xử sự, nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng của mình và mọi người. Quay lại câu chuyện vượt đèn đỏ, nếu người tham gia giao thông luôn tuân thủ tín hiệu đèn bất kể có Cảnh sát hay không thì rõ ràng người hưởng lợi đầu tiên chính là họ, cộng thêm việc không vi phạm thì sẽ không phải chịu chế tài, không sinh ra tâm lý tiêu cực. Mặt lợi của tinh thần tự giác là không có gì bàn cãi, thứ duy nhất đáng quan tâm là chắc chắn không thể nào đạt được 100% công dân tự giác. Vì vậy mới cần đến chế tài.

    Suy nghĩ trước giờ của phần lớn mọi người là đặt nặng chế tài hơn tự giác, khi quyết định việc gì cũng  xét đến việc có chế tài hay không, nặng hay nhẹ mà quên đi việc tự giác chấp hành mới chính là yếu tố quan trọng nhất để tác động đến ý chí tuân thủ pháp luật.

    Ai cũng muốn sống trong xã hội pháp quyền, muốn thay đổi những cái chưa hay. Dù việc tuyên truyền phổ biến pháp luật có mạnh đến đâu, chế tài có nặng tới mức nào mà ý thức tự giác mọi người không tốt thì cũng không có kết quả. Vậy trước hết cần nâng cao ý thức tự giác của mỗi người. Đó không phải là việc có thể làm trong một sớm một chiều. Nhà nước không thể tác động đến sự tự giác của mỗi người, nhưng với mỗi cá nhân chúng ta tự nhìn nhận và thay đổi, tự lựa chọn hành vi đúng với pháp luật, thì chính chúng ta đang đang tạo sự thay đổi, tác động đến phần còn lại nhằm hướng tới xã hội pháp quyền.

    Vài điều chia sẻ với mọi người nhân ngày Pháp luật Việt Nam.

103 Trang «<42434445464748>»