Chủ đề chưa có phản hồi

248 Trang «<42434445464748>»
  • 16/12/2015, 10:07:33 CH | Trong chuyên mục Đất đai - Nhà cửa

    sunghiepcm
    sunghiepcm
    Top 500
    Chồi

    Cà Mau, Việt Nam
    Tham gia:08/09/2014
    Tổng số bài viết (54)
    Số điểm: 1120
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 0 lần


    Xin chào luật sư!

    Tôi hiện là địa chính của một phường tôi muốn hỏi khi chủ tịch UBND cấp huyện ra quyết định giải quyết tranh chấp đất đai mà các bên không đồng ý và khiếu nại đến chủ tịch UBND cấp tỉnh thỉ chủ tịch UBND cấp tỉnh ra quyết định gi?có được thay đổi nội dung trong quyết định mà ông huyện đã ban hành hay không?

    Xin cám ơn luật sư!

  • 16/12/2015, 07:07:09 CH | Trong chuyên mục Đất đai - Nhà cửa

    duynhiem2000
    duynhiem2000

    Sơ sinh

    Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam
    Tham gia:16/12/2015
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Chào các Luật sư!

    Tôi có làm hợp đồng công chứng thuê quyền sử dụng đất (mục đích ban đầu là thuê nhà nhưng do nhà chưa được nhà nước công nhận) để kinh doanh với thời hạn 3 năm kể từ ngày 20/11/2015 tới 20/11/2018 với các cam kết chính như sau:

    Bên cho thuê chỉ được lấy lại nhà cho thuê sau 1.5 năm và phải thông báo trước 03 tháng nếu không sẽ phải bồi thường gấp 03 lần số tiền cọc. Ngược lại bên thuê được quyền chấm dứt hợp đồng thuê và yêu cầu trả lại tiền cọc (9 triệu đồng) nhưng phải báo trước 03 tháng nếu ko sẽ mất cọc và phải bồi thường gấp đôi số cọc.

    . Sau khi công chứng hợp đồng xong tôi tiến hành sơn sửa nhà thuê. Tới ngày 09/12/2015 tức là chưa được 1 tháng thuê thì chủ nhà nói bán nhà (tôi đã mua máy móc trang thiết bị chỉ vài ngày nữa là khai trương). Tôi yêu cầu cho gặp chủ mới (mới chỉ đặt cọc tiền, chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng) để thương lượng tiếp tục thuê theo hợp đồng đã ký với chủ cũ (đây cũng là quyền lợi hợp pháp của tôi) nhưng chủ nhà mới không đồng ý.

    Cuộc thương lượng không thành công, chủ cũ nói sẽ thương lượng thanh lý hợp đồng. Thứ bảy tuần đó hai bên có cuộc nói chuyện và thống nhất bên thuê sẽ trả lại tôi 9 triệu tiền cọc và 11 triệu tiền hỗ trợ (phần này nhỏ hơn nhiều so với chi phí tôi bỏ ra trong gần 1 tháng thuê, nhưng tôi chấp nhận vì không muốn kiện cáo mất thời gian để lấy gấp 3 lần tiền cọc). Bên cho thuê hứa thứ 2 tuần sau sẽ gửi tiền cho tôi. Tuy nhiên thứ 2 tuần sau tôi gọi lại thì hẹn tới thứ 4, hôm này thứ tư tôi gọi thì lại hẹn tới thứ 7 sẽ giải quyết cho tôi (chỉ nói giải quyết chứ ko nói rõ sẽ gửi tiền cho tôi).

    Tôi suy nghĩ nhiều về vấn đề này và phỏng đoán chủ cũ chỉ muốn trả cọc ko muốn mất tiền bồi thường và cố tình kéo dài để hoàn tất thủ tục chuyển quyền sử dụng đât.

    Xin hỏi các luật sư các luật sư những ý sau?

    1. Tôi nên làm như thế nào để đảm bảo quyền lợi của mình nhất ( hiện tại máy móc, trang thiết bị giờ tạm bỏ đó, mọi hoạt động ngưng hết lại)? Tôi có nên tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình (tạo lợi nhuận ngày nào hay ngày ấy) hay dừng lại và chờ...

    2. Tôi có nên gửi đơn ngăn chặn giao dịch này để tạo áp lực thanh toán cho chủ cũ hay không? (Nếu gửi thì gửi ở phòng công chứng nơi công chứng hợp đồng thuê hoặc gửi tại UBND xã được không vì chỗ tôi khá xa các cơ quan cấp Huyện)

    3. Nếu tôi cho họ thời gian tới thứ 7, có thể họ sẽ hoàn thành giao dịch chuyển quyền sở hữu đất thì quyền lợi của tôi có còn được đảm bảo? đơn từ khiếu kiện gửi tới cơ quan nào, người bị khiếu kiện là người cũ hay mới (người cũ có thể đổ hết trách nhiệm hợp đồng cho người mới không?)

    Xin cám ơn các luật sư!

  • 16/12/2015, 10:53:56 SA | Trong chuyên mục Doanh nghiệp & Đầu tư

    lesytoan
    lesytoan

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:16/12/2015
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Xin chào luật sư. luật sư cho cháu hỏi là cháu đang là sinhc viên đi làm thêm về việc nhận thu hồ so bằng lái xe cho trung tâm nhưng cháu muốn làm con dấu riên có nội dung vd như

    nhận làm bằng lái xe tp hà nội

    địa chỉ

    số điện thoại 

    đã thu tiền

    như vậy có vi phạm pháp luật không ạ. Vì cháu làm cái này thu tiền phải có cái biên lai lấy lòng tin vói khách cháu àm vậy có vi phạm pháp luật không?

    Và cháu muốn làm con dấu có nội dung

    vp abc 

    đã thu tiền

    trong khi văn phòng abc là cháu tự lấy tên không có đăng kí thì có vi phạm pháp luật không ạ ?

    cháu cảm ơn luật sư .

  • 15/12/2015, 11:46:53 CH | Trong chuyên mục Tài liệu Pháp luật

    nguyenvancong90tq
    nguyenvancong90tq
    Top 100
    Male
    Lớp 3

    Tuyên Quang, Việt Nam
    Tham gia:08/11/2013
    Tổng số bài viết (547)
    Số điểm: 4997
    Cảm ơn: 66
    Được cảm ơn 193 lần


    Xin chào tất cả các thành viên trên diễn đàn

    Như tiêu đề thì hiện tại tôi đang cần một mẫu hợp đồng về dịch vụ logistics nên rất mong mọi người giúp đỡ ạ, ai có hợp đồng mẫu hoặc đã từng soạn thảo hợp đồng này thì cho tôi xin chusty kinh nghiệm ạ

    Tôi xin chân thành cảm ơn ạ!

  • 15/12/2015, 10:25:22 CH | Trong chuyên mục Doanh nghiệp & Đầu tư

    tieuthong
    tieuthong

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:05/11/2015
    Tổng số bài viết (33)
    Số điểm: 225
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 5 lần


    Nghị định 118/2015/NĐ-CP đã ban hành và sẽ có hiệu lực từ ngày 27/12/2015. Nghị định 118 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.

     

     

     

    Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.

     

    Vậy khi pháp luật thay đổi, liệu phần vốn mà các đầu tư đã bỏ ra khi kinh doanh sẽ được bảo đảm an toàn hay mất đi?

     

    Cụ thể, tại Điều 3 của Nghị định 118/2015/NĐ-CP đã có quy định:

     

    1. Trong trường hợp văn bản pháp luật mới do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành có quy định làm thay đổi ưu đãi đầu tư đang áp dụng đối với nhà đầu tư trước thời điểm văn bản đó có hiệu lực, nhà đầu tư được bảo đảm thực hiện ưu đãi đầu tư theo quy định tại Điều 13 Luật Đầu tư.

     

    2. Ưu đãi đầu tư được bảo đảm theo quy định tại Khoản 1 Điều này là ưu đãi mà nhà đầu tư được hưởng theo quy định tại văn bản pháp luật có hiệu lực trước thời điểm văn bản pháp luật mới có hiệu lực, gồm:

     

    a) Ưu đãi đầu tư được quy định tại Giấy phép đầu tư, Giấy phép kinh doanh, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản quyết định chủ trương đầu tư hoặc văn bản khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

     

    b) Ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng theo quy định của pháp luật không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này.

     

    3. Khi có yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo đảm đầu tư theo quy định tại Khoản 4 Điều 13 Luật Đầu tư, nhà đầu tư gửi văn bản đề nghị cho Cơ quan đăng ký đầu tư kèm theo Giấy phép đầu tư, Giấy phép kinh doanh, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản quyết định chủ trương đầu tư hoặc văn bản khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quy định về ưu đãi đầu tư (nếu có một trong các loại giấy tờ đó). Văn bản đề nghị gồm các nội dung sau:

     

    a) Tên và địa chỉ của nhà đầu tư;

     

    b) Ưu đãi đầu tư theo quy định tại văn bản pháp luật trước thời điểm văn bản pháp luật mới có hiệu lực gồm: Loại ưu đãi, điều kiện hưởng ưu đãi, mức ưu đãi (nếu có);

     

    c) Nội dung văn bản pháp luật mới có quy định làm thay đổi ưu đãi đầu tư quy định tại Điểm b Khoản này;

     

    d) Đề xuất của nhà đầu tư về áp dụng biện pháp bảo đảm ưu đãi đầu tư quy định tại Khoản 4 Điều 13 Luật Đầu tư.

     

    4. Cơ quan đăng ký đầu tư quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm ưu đãi đầu tư theo đề xuất của nhà đầu tư trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ theo quy định tại Khoản 3 Điều này. Trường hợp vượt thẩm quyền, Cơ quan đăng ký đầu tư trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định.

     

    Thông tin bổ sung thêm: 

     

    Điều 13. Bảo đảm đầu tư kinh doanh trong trường hợp thay đổi pháp luật

     

    1. Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư cao hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư đang được hưởng thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của văn bản pháp luật mới cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án.

     

    2. Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư thấp hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định trước đó cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án.

     

    3. Quy định tại khoản 2 Điều này không áp dụng trong trường hợp thay đổi quy định của văn bản pháp luật vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, bảo vệ môi trường.

     

    4. Trường hợp nhà đầu tư không được tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều này thì được xem xét giải quyết bằng một hoặc một số biện pháp sau đây:

     

    a) Khấu trừ thiệt hại thực tế của nhà đầu tư vào thu nhập chịu thuế;

     

    b) Điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án đầu tư;

     

    c) Hỗ trợ nhà đầu tư khắc phục thiệt hại.

     

    5. Đối với biện pháp bảo đảm đầu tư quy định tại khoản 4 Điều này, nhà đầu tư phải có yêu cầu bằng văn bản trong thời hạn 03 năm kể từ ngày văn bản pháp luật mới có hiệu lực thi hành.

     

    =>Như vậy, chúng ta có thể tóm gọn lại các trường hợp sẽ được bảo đảm đầu tư kinh doanh khi pháp luật thay đổi như sau:

     

    Thứ nhất: Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư cao hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư đang được hưởng thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của văn bản pháp luật mới cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án.

     

    Thứ hai: Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư thấp hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định trước đó cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án.

     

    Thứ ba: Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư thấp hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng trước đó không áp dụng trong trường hợp thay đổi quy định của văn bản pháp luật vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, bảo vệ môi trường.

     

    Thứ tư: Trường hợp nhà đầu tư không được tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư trong trường hợp thứ ba thì được xem xét giải quyết bằng một hoặc một số biện pháp sau đây:

     

    + Khấu trừ thiệt hại thực tế của nhà đầu tư vào thu nhập chịu thuế;

    + Điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án đầu tư;

    + Hỗ trợ nhà đầu tư khắc phục thiệt hại.

  • 15/12/2015, 10:06:27 CH | Trong chuyên mục Doanh nghiệp & Đầu tư

    tieuthong
    tieuthong

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:05/11/2015
    Tổng số bài viết (33)
    Số điểm: 225
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 5 lần


    Nghị định 114/2015/NĐ-CP đã ban hành và sẽ có hiệu lực vào ngày 25/12/2015. Nghị định 114 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 164/2013/NĐ-CP.

     

     

     

    Ban đầu, tại Chương III, Điều 21 của Nghị định 29/2008/NĐ-CP đã quy định cụ thể:

     

    1. Khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất được áp dụng quy định đối với khu phi thuế quan theo quy định của pháp luật. Quy định là doanh nghiệp chế xuất được ghi trong Giấy chứng nhận đầu tư.

     

    2. Khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chế xuất được ngăn cách với lãnh thổ bên ngoài bằng hệ thống tường rào, có cổng và cửa ra, vào, bảo đảm điều kiện cho sự kiểm soát của Hải quan và các cơ quan chức năng có liên quan.

     

    3. Doanh nghiệp chế xuất được mua văn phòng phẩm, lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng từ nội địa Việt Nam để phục vụ cho điều hành bộ máy văn phòng và sinh hoạt của cán bộ, công nhân làm việc tại doanh nghiệp. Doanh nghiệp chế xuất được lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu và hải quan đối với những loại hàng hóa này.

     

    4. Thủ tục hải quan, kiểm tra và giám sát hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất thực hiện theo pháp luật về hải quan.

     

    5. Quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất với các khu vực khác trên lãnh thổ Việt Nam, trừ khu phi thuế quan, là quan hệ xuất, nhập khẩu.

     

    6. Cán bộ, công nhân viên làm việc trong khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất khi mang ngoại hối từ nội địa Việt Nam vào khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất và ngược lại không phải khai báo hải quan.

     

    Sau đó, Khoản 2, Khoản 3 và Khoản 5 đã được sửa đổi và bổ sung thêm Khoản 7 tại Nghị định 164/2013/NĐ-CP:

     

    2. Khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chế xuất được ngăn cách với lãnh thổ bên ngoài bằng hệ thống tường rào, có cổng và cửa ra, vào, bảo đảm điều kiện cho sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát của cơ quan hải quan và các cơ quan chức năng có liên quan.

     

    3. Doanh nghiệp chế xuất được mua vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng từ nội địa Việt Nam để xây dựng công trình, phục vụ cho điều hành bộ máy văn phòng và sinh hoạt của cán bộ, công nhân làm việc tại doanh nghiệp.

     

    Doanh nghiệp chế xuất, người bán hàng cho doanh nghiệp chế xuất được lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu và hải quan đối với vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng từ nội địa Việt Nam.

     

    5. Doanh nghiệp chế xuất được bán vào thị trường nội địa tài sản thanh lý của doanh nghiệp và các hàng hóa theo quy định của pháp luật về đầu tư và thương mại. Quan hệ trao đổi hàng hóa được sản xuất các khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất với các khu vực khác trên lãnh thổ Việt Nam, trừ khu phi thuế quan, là quan hệ xuất, nhập khẩu.

     

    7. Doanh nghiệp chế xuất được cấp Giấy phép kinh doanh hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam phải thành lập chi nhánh riêng nằm ngoài doanh nghiệp chế xuất, khu chế xuất để thực hiện hoạt động này.

    Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn cụ thể Điều này.

     

    Bây giờ, Nghị định 114/2015/NĐ-CP đã quy định tại Điều 2 như sau: 

     

    Bãi bỏ Khoản 9 Điều 1 Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế.

     

    =>Vậy những điều đã sửa đổi và bổ sung thêm tại Nghị định 164/2013/NĐ-CP đã bị bãi bỏ.

     

    Vậy Nghị định 114/2015/NĐ-CP chỉnh sửa và bổ sung như thế nào?

     

    Cụ thể, tại Điều 1 của Nghị định 114 đã có quy định:

     

    1. Khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất được áp dụng quy định đối với khu phi thuế quan trừ ưu đãi riêng đối với khu phi thuế quan thuộc khu kinh tế cửa khẩu. Doanh nghiệp chế xuất được quy định trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc trong văn bản của cơ quan đăng ký đầu tư có thẩm quyền trong trường hợp không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

     

    2. Khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chế xuất được ngăn cách với lãnh thổ bên ngoài bằng hệ thống tường rào, có cổng và cửa ra, vào, bảo đảm điều kiện cho sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát của cơ quan hải quan và các cơ quan chức năng có liên quan.

     

    3. Doanh nghiệp chế xuất được mua vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng từ nội địa Việt Nam để xây dựng công trình, phục vụ cho điều hành bộ máy văn phòng và sinh hoạt của cán bộ, công nhân làm việc tại doanh nghiệp.

     

    Doanh nghiệp chế xuất, người bán hàng cho doanh nghiệp chế xuất được lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu và hải quan đối với vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng từ nội địa Việt Nam.

     

    4. Thủ tục hải quan, kiểm tra và giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất thực hiện theo pháp luật về hải quan.

     

    5. Quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất với các khu vực khác trên lãnh thổ Việt Nam, không phải khu phi thuế quan, là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu trừ các trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này và các trường hợp không làm thủ tục hải quan do Bộ Tài chính quy định.

     

    Doanh nghiệp chế xuất được bán vào thị trường nội địa tài sản thanh lý của doanh nghiệp và các hàng hóa theo quy định của pháp luật về đầu tư và thương mại. Tại thời điểm bán, thanh lý vào thị trường nội địa không áp dụng chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trừ trường hợp hàng hóa thuộc diện quản lý theo điều kiện, tiêu chuẩn, kiểm tra chuyên ngành chưa thực hiện khi nhập khẩu; hàng hóa quản lý bằng giấy phép thì phải được cơ quan cấp phép nhập khẩu đồng ý bằng văn bản.

     

    6. Cán bộ, công nhân viên làm việc trong khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất khi mang ngoại hối từ nội địa Việt Nam vào khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất và ngược lại không phải khai báo hải quan.

     

    7. Doanh nghiệp chế xuất được cấp Giấy phép kinh doanh hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam phải mở sổ kế toán hạch toán riêng doanh thu, chi phí liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa tại Việt Nam và bố trí khu vực lưu giữ hàng hóa ngăn cách với khu vực lưu giữ hàng hóa phục vụ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp chế xuất hoặc thành lập chi nhánh riêng nằm ngoài doanh nghiệp chế xuất, khu chế xuất để thực hiện hoạt động này.

     

    Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể Điều này

     

    =>Như vậy, đã có sự thay đổi rõ rệt về quy định riêng áp dụng đối với khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất trong nhiều mảng khác nhau như: ngăn cách với lãnh thổ, mua vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, lương thực, Quan hệ trao đổi hàng hóa, Giấy phép kinh doanh hoạt động mua bán hàng hóa,… 

     
  • 15/12/2015, 09:35:33 CH | Trong chuyên mục Lao động - Việc làm

    tieuthong
    tieuthong

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:05/11/2015
    Tổng số bài viết (33)
    Số điểm: 225
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 5 lần


    Quyết định 63/2015/QĐ-TTg đã ban hành và sẽ có hiệu lực vào ngày 01/02/2016. Quyết định này quy định chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất. 

     

     

     

    Theo như quyết định 63/2015/QĐ-TTg thì Người lao động bị thu hồi đất được hưởng chính sách hỗ trợ trong thời hạn 5 năm kể từ ngày có Quyết định thu hồi đất.

     

    Vậy những đối tượng nào sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ này?

     

    Cụ thể, tại Điều 2 của Quyết định 63/2015/QĐ-TTg đã quy định:

     

    1. Người lao động thuộc hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp theo quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, công nhân viên của nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi (sau đây gọi tắt là người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp);

     

    2. Người lao động thuộc hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ mà phải di chuyển chỗ ở (sau đây gọi tắt là người lao động bị thu hồi đất kinh doanh).

     

    Thông tin bổ sung: 

     

    Các điểm a,b,c và d tại Khoản 1 Điều 19 của Nghị định 47/2014/NĐ-CP cụ thể như sau:

     

    a) Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp khi thực hiện Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp; Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và bổ sung việc giao đất làm muối cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài; giao đất lâm nghiệp khi thực hiện Nghị định số 02/CP ngày 15 tháng 01 năm 1994 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;

     

    b) Nhân khẩu nông nghiệp trong hộ gia đình quy định tại Điểm a Khoản này nhưng phát sinh sau thời điểm giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình đó;  

     

    c) Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp theo quy định tại Điểm a Khoản này nhưng chưa được giao đất nông nghiệp và đang sử dụng đất nông nghiệp do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho, khai hoang theo quy định của pháp luật, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi xác nhận là đang trực tiếp sản xuất trên đất nông nghiệp đó;

     

    d) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó;

     

    *Chú thích thêm: Riêng điểm d được hướng dẫn bởi Điều 6 Thông tư 37/2014/TT-BTNMT. 

     

    Điều 6. Bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp do cán bộ, công chức, viên chức (đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) đang sử dụng đất 

     

    1. Cán bộ, công chức, viên chức (đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) không thuộc đối tượng quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 19 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP nhưng đang sử dụng đất nông nghiệp do nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật, khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường về đất nhưng không được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, không được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm. 

     

    2. Hộ gia đình vừa có nhân khẩu là cán bộ, công chức, viên chức (đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) vừa có nhân khẩu không phải là cán bộ, công chức, viên chức nhưng đang sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích sản xuất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình đó thì nhân khẩu không phải là cán bộ, công chức, viên chức được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện cụ thể tại địa phương quy định mức hỗ trợ cho phù hợp.

     

    =>Như vậy, Quyết định 63/2015/QĐ-TTg đã quy định chính sách hỗ trợ với nhiều điều kiện ưu đãi cho người lao động bị thu hồi đất. Người lao động có thể được tư vấn, định hướng nghề nghiệp và giới thiệu việc làm miễn phí tại các Trung tâm dịch vụ việc làm; và được vay vốn ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm theo quy định của pháp luật.

     
  • 15/12/2015, 09:06:34 CH | Trong chuyên mục Tặng nhau Văn bản Luật

    tieuthong
    tieuthong

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:05/11/2015
    Tổng số bài viết (33)
    Số điểm: 225
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 5 lần


    Quyết định 2245/QĐ-TTg đã ban hành và có hiệu lực từ ngày 11/12/2015. Quyết định 2245 quy định về việc phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành khoa học và công nghệ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng góp phần phát triển kinh tế. 

     

     

     

    Với quan điểm khoa học và công nghệ là đòn bẩy của quá trình tái cơ cấu kinh tế; sắp xếp, bố trí hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ công lập gắn với chuyển đổi mô hình hoạt động, phát triển nguồn nhân lực và cơ cấu lại các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ gắn với việc phát triển các sản phẩm hàng hóa chủ lực – Chính phủ đã đề ra những mục tiêu cụ thể trong khoảng thời gian từ bây giờ đến năm 2020.

     

    Cụ thể, tại Điều 1, Mục II, Khoản II đã nêu ra mục tiêu cụ thể của đề án tái cơ cấu ngành Khoa học và Công nghệ đến năm 2020 như sau:

     

    - Đến năm 2020, phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học và công nghệ, tập trung ưu tiên một số lĩnh vực có thế mạnh; có thứ hạng cao trên thế giới ở một số lĩnh vực như công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học trong y tế và nông nghiệp, công nghệ vật liệu mới; ứng dụng và phát triển các công nghệ có ảnh hưởng quyết định đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, tạo ra các sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao. Đến năm 2030, có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới, tiềm lực khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu cơ bản của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

     

    - Đến năm 2020, thông qua yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) hoạt động khoa học và công nghệ đóng góp khoảng 30% - 35% tăng trưởng kinh tế; giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 40% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, tỷ lệ đổi mới công nghệ, thiết bị tăng trung bình 20%/năm, giá trị giao dịch của thị trường khoa học và công nghệ tăng trung bình 15%/năm. Đạt trình độ nhóm có thứ hạng khá trên thế giới về chỉ số đổi mới sáng tạo.

     

    - Hình thành đồng bộ đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao; phát triển các tổ chức, tập thể khoa học và công nghệ mạnh, các nhà khoa học đầu ngành. Hoàn thành quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ công lập, xây dựng một số trung tâm nghiên cứu hiện đại. Phát triển mạnh các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực hệ thống các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ.

     

    =>Như vậy, mục tiêu về đề án tái cơ cấu ngành khoa học công nghệ lần này bao gồm 3 nội dung chính:

     

    - Thứ nhất: chúng ta phải phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học và công nghệ, tập trung ưu tiên một số lĩnh vực có thế mạnh, ứng dụng và phát triển các công nghệ có ảnh hưởng quyết định đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.

     

    - Thứ hai: hoạt động khoa học và công nghệ đóng góp khoảng 30% - 35% tăng trưởng kinh tế, sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 40%.

     

    -Thứ ba: hình thành đồng bộ đội ngũ cán bộ, phát triển các tổ chức, tập thể khoa học và công nghệ mạnh.

     
  • 15/12/2015, 06:24:11 CH | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    Nguyenduyen07
    Nguyenduyen07

    Sơ sinh

    Đăk Lăk, Việt Nam
    Tham gia:15/12/2015
    Tổng số bài viết (14)
    Số điểm: 325
    Cảm ơn: 9
    Được cảm ơn 0 lần


    CTCP xây dựng và hóa chất Hoa Sen( trụ sở tại Hà Nội) đầu tư vốn 30 tỷ đồng để thành lập công ty Hoa Sen 2, kinh doanh dịch vụ vận tải (trụ sở tại Hải Phòng).

    Việc đầu tư vốn thành lập công ty Hoa Sen 2 có hợp pháp hay không.?

    Việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh và tên gọi của công ty Hoa Sen 2 có gặp trở ngại nào về pháp lí hay không?

    Giả sử việc thành lập doanh nghiệp là hợp pháp, thì thiết kê cơ cấu tổ chức công ty hoa sen 2 như thế nào?

     

  • 15/12/2015, 05:03:51 CH | Trong chuyên mục Đất đai - Nhà cửa

    hoantran.ktxd
    hoantran.ktxd

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:15/12/2015
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


           Kính gửi các cô chú!

    Gia đình cháu có vấn đề về đất đai nhiều năm mà chưa giải quyết được, cháu chia sẻ bài mong cô chú tư vấn giúp cháu! Sự việc nó hơi lằng nhằng, mong cô chú đọc kỹ giúp cháu ạ!

    Ông bà cháu có 2 thửa đất (ký hiệu là A và B), mỗi thửa lại chia làm 2 ô (A là 1 và 2; B là 3 và 4). Ô 1 và 4 là của nhà bác cháu. Ngày trước, ô 2, 3 là của nhà cô chú cháu nhưng do sạt lở, nhà cháu bị mất đất nên ông bà cho bố mẹ cháu ô 3 để xây nhà (cho chỉ nói miệng, k có giấy tờ ạ) và bảo khi nào nhà cháu được cấp đất mới thì nhà cháu với nhà cô chú chia đôi (tính đến bây giờ là chưa được cấp lại). Năm 2003, nhà cô chú cháu sang thành phố ở nên nhà cháu mua lại ô đất 2 (tiền nhà cháu trả hết rồi nhưng nghĩ vì anh em nên k làm hợp đồng mua bán ạ :((). Đến năm 2012, xã cháu mới làm sổ đỏ, theo sơ đồ địa chính thì phần đất nhà cháu xây nhà vẫn thuộc quyền sở hữu của cô chú. Nhà cháu đã họp gia đình và quyết định cho nhà bác đứng tên sổ thửa đất A, nhà cô chú đứng tên thửa đất B và theo đó có biên bản nêu rõ ô đất 2 là thuộc sở hữu nhà cháu, sau khi làm sổ thì phải tách trả, biên bản có xác nhận của chính quyền. Và vì không có giấy tờ nên cô chú không trả nhà cháu ô 3, coi như bme cháu không được ông bà cho ô 3.

    Đến nay đã 3 năm rồi nhưng cả 2 gia đình cô chú và gia đình bác không chịu tách trả đất cho nhà cháu (vì thửa A có vị trí đẹp hơn nên nhà bác không muốn tách trả). Gia đình cô chú yêu cầu nhà cháu: thứ nhất, khi nào nhà cháu được cấp thổ cư mới và phải lấy thổ cư đó trả cho cô chú thì cô chú mới tách trả đất. Thứ 2, nhà cháu ở 300m2 thì phải trả đủ 300m2, nếu đất nhà cháu được cấp không đủ thì phải mua thêm. Như vậy có đúng không ạ? Cô chú cháu có được phép giàng buộc, không chịu trả phần đất nhà cháu mua khi nhà cháu chưa có đất trả không ạ? Và phần đất nhà cháu ở nhà cô chú, khi gia đình cháu trả đất thì có bị yêu cầu vị trí (ví dụ như phải ở thành phố, mặt đường.....) không ạ? Và muốn giải quyết triệt để vấn đề thì gia đình cháu phải trình đơn lên cơ quan nào ạ? (mấy lần nhà cháu gửi lên ủy ban nhân dân xã người ta không nói là không giải quyết mà cứ bảo về giải quyết gia đình đi) :((

    Cháu rất mong có những tư vấn sâu sắc để gia đình cháu có thể giải quyết theo cách thuận lợi nhất ạ!

    Cháu cảm ơn cô chú! ^^

  • 15/12/2015, 02:40:10 CH | Trong chuyên mục Tài liệu Pháp luật

    lphuc101314
    lphuc101314

    Sơ sinh

    Đồng Tháp, Việt Nam
    Tham gia:29/11/2011
    Tổng số bài viết (16)
    Số điểm: 245
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 2 lần


    Hiện nay, mình đang nghiên cứu về quá trình hoạt động của các Trường THPT, THCS, TH, các trường nhiều cấp học. Nên cần thêm thông tin về việc lập các loại quỹ tại trường. Anh, chị nào có thông tin chia sẽ với mình với. Cám ơn nhiều. hihi

  • 15/12/2015, 12:49:34 CH | Trong chuyên mục Thuế - Phí - Lệ phí

    khangnga
    khangnga

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:19/06/2014
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Chào chị BV, nhờ chị tư vấn giúp trường hợp sau ạ:

    Công ty em kiểm tra Thuế năm 2014, Theo biên bản kiểm tra Thuế thì công ty em bị truy thu và đ/c những khoản sau:

    1. Thuế GTGT phải nộp NSNN là: 105 triệu

    2. Thuế GTGT còn được khấu trừ kỳ chuyển kỳ sau giảm: 54 triệu

    3. Thuế TNCN phải nộp từ đầu tư vốn: 7.173.0044. 

    4. Tiền phạt : 20tr

    Những khoản truy thu trên hạch toán như thế nào ạ?

    Trong khoản thuế GTGT bị truy thu trên thì có: 76 triệu là tiền thuế của hàng tồn kho tại thời điểm 31/12/2014, do còn tồn theo sổ sách trong khi công ty lại không có kho; 29 triệu còn lại là tiền thuế bị bóc từ công nợ phải trả quá hạn thanh toán.

    Đến T11 năm 2015 công ty xuất hóa đơn hàng tồn kho nói trên phát sinh công nợ và tiền thuế -> thế thì tiền thuế phát sinh và tiền thuế truy thu theo biên bản thanh tra hạch toán thế nào ạ?

  • 15/12/2015, 11:53:15 SA | Trong chuyên mục Dự thảo Luật mới

    ChuTuocLS
    ChuTuocLS
    Top 150
    Female
    Lớp 12

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:25/07/2009
    Tổng số bài viết (305)
    Số điểm: 20929
    Cảm ơn: 9
    Được cảm ơn 471 lần
    SMod

    Nhằm đảm bảo cho việc thực hiện Luật đất đai 2013 phù hợp hơn với thực tiễn hiện nay, sắp tới, Chính phủ sẽ ban hành thêm Nghị định hướng dẫn.

    Theo đó, Nghị định này hướng dẫn xử lý tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong trường hợp đã nộp, xử lý tiền thuế đất còn lại cho người được Nhà nước cho thuê trả tiền, xử lý trong trường hợp tổ chức bị thu hồi đất nhưng không được bồi thường…Cụ thể:

    Nghi dinh huong dan Luat dat dai 2013

    Xử lý tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã nộp, chi phí đầu tư vào đất còn lại, tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất

    1. Đề xuất xử lý theo 02 phương án:

    Theo phương án 1:

    - Khi Nhà nước thu hồi đất đối với các trường hợp sau thì chủ sở hữu tài sản được trả lại giá trị còn lại của tài sản gắn liền với đất đã tạo lập hợp pháp theo quy định pháp luật mà không còn nguồn gốc từ ngân sách nhà nước:

    + Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền.

    + Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành.

    + Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục.

    + Người sử dụng đất chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 65 Luật đất đai 2013.

    + Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất quy định định tại Điểm c Khoản 1 Điều 65 Luật đất đai.

    Theo phương án 2:

    - Khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp người sử dụng đất chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 65 Luật đất đai thì chủ sở hữu tài sản được Nhà nước xem xét trả lại giá trị còn lại của tài sản gắn liền với đất được tạo lập hợp pháp theo quy định pháp luật mà không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.

    Trường hợp người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 65 Luật đất đai thì ngoài việc trả lại giá trị quyền sử dụng đất quy định tại Điểm e Khoản 2 Điều 114 Luật đất đai, chủ sở hữu tài sản còn được xem xét trả lại giá trị còn lại của tài sản gắn liền với đất được tạo lập hợp pháp theo quy định pháp luật mà không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.

    UBND cấp tỉnh căn cứ vào quy định pháp luật, tình hình cụ thể tại địa phương và triển khai dự án để xem xét quyết định trả lại giá trị còn lại của tài sản đối với từng trường hợp cụ thể.

    2. Khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp tổ chức bị giải thể, phá sản quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 65 Luật đất đai thì chi phí đầu tư vào đất còn lại, tài sản gắn liền với đất (nếu có) của người sử dụng đất được xử lý theo quy định pháp luật về giải thể, phá sản.

    3. Khi Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai quy định tại Khoản 1 Điều 64 Luật đất đai thì người sử dụng đất không được trả lại tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã nộp, chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có).

    4. Khi Nhà nước thu hồi đất do chấm dứt sử dụng đất theo quy định tại Khoản 1 Điều 65 Luật đất đai thì tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã nộp, chi phí đầu tư vào đất còn lại được xử lý như sau:

    + Không được trả lại tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã nộp, trừ trường hợp bị phá sản, giải thể và trường hợp người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất cho Nhà nước mà đất đó được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, công nhận quyền sử dụng đất mà phải nộp tiền sử dụng đất.

    Trường hợp người sử dụng đất tự nguyện trả lại một phần diện tích đất có nguồn được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, đất được công nhận quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã nộp không có nguồn gốc từ Ngân sách nhà nước thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương quyết định việc thu hồi phần diện tích đất trả lại.

    Người tự nguyện trả lại đất được trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất trả lại, chủ sở hữu tài sản được xem xét trả lại giá trị còn lại của tài sản gắn liền với đất tạo lập hợp pháp theo quy định pháp luật mà không có nguồn từ ngân sách nhà nước.

    + Không được trả lại chi phí đầu tư vào đất còn lại, trừ trường hợp phá sản, giải thể.

    5. Đối với hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất tự nguyện trả lại đất thì được trả lại giá trị quyền sử dụng đất theo giá đất trong bảng giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành và được trả lại giá trị tài sản gắn liền với đất theo giá trị đã đầu tư vào đất.

    6. Đối với trường hợp vi phạm pháp luật đất đai mà đã có quyết định thu hồi đất của UBND cấp có thẩm quyền trước ngày 01/7/2014 nhưng chưa xử lý tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại, tài sản đã đầu tư trên đất (nếu có) thì được xử lý theo quy định pháp luật về đất đai trước ngày 01/7/2014.

    Xử lý tiền thuê đất còn lại cho người được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm mà đã trả trước tiền thuê đất cho nhiền năm khi Nhà nước thu hồi đất

    - Người được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm mà đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm cho Nhà nước thì khi Nhà nước thu hồi đất được trả lại tiền thuê đất đã trả trước còn lại cho thời gian chưa sử dụng tính từ thời điểm có quyết định thu hồi đất.

    Xử lý trường hợp tổ chức bị thu hồi đất nhưng không được bồi thường về đất

    - Tổ chức đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di dời đến cơ sở mới hoặc sửa chữa, xây dựng bổ sung trụ sở làm việc tại cơ sở cũ thì được sử dụng tiền bồi thường về tài sản do Nhà nước giao quản lý sử dụng để thực hiện dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    - Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã nộp cò nguồn gốc từ ngân sách nhà nước và tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất mà phải di dời đến cơ sở mới thì được hỗ trợ bằng tiền để thực hiện dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    Mức hỗ trợ tối đa không quá mức bồi thường đất bị thu hồi và do tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất chi trả.

    Xem chi tiết nội dung tại dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung các Nghị định hướng dẫn Luật đất đai 2013.

  • 14/12/2015, 03:36:11 CH | Trong chuyên mục Thuế - Phí - Lệ phí

    ChuTuocLS
    ChuTuocLS
    Top 150
    Female
    Lớp 12

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:25/07/2009
    Tổng số bài viết (305)
    Số điểm: 20929
    Cảm ơn: 9
    Được cảm ơn 471 lần
    SMod

    Để hướng dẫn chi tiết một cách kịp thời cho Luật thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Ngay sau khi Nghị định 108/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật được ban hành, Bộ Tài chính đã có Thông tư 195/2015/TT-BTC hướng dẫn chi tiết  Nghị định này.

    Sau đây, Dân Luật tổng hợp điểm mới Thông tư 195/2015/TT-BTC hướng dẫn về thuế tiêu thụ đặc biệt như sau:

    1. Về giá tính thuế TTĐB 

    a. Bổ sung quy định về giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu (trừ xăng các loại) do cơ sở kinh doanh nhập khẩu bán ra, cụ thể :

    Đối với hàng hóa nhập khẩu (trừ xăng các loại) do cơ sở kinh doanh nhập khẩu bán ra, giá tính thuế TTĐB được xác định như sau:

    Giá tính thuế

    TTĐB

     

    =

    Giá bán chưa

    có thuế GTGT

    -

    Thuế bảo vệ môi trường

    (nếu có)

    1 + Thuế suất thuế TTĐB

    Trong đó, giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng được xác định theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng, thuế bảo vệ môi trường xác định theo quy định của pháp luật về thuế bảo vệ môi trường.

    b. Sửa đổi tỷ lệ % khống chế về giá làm căn cứ tính thuế  TTĐB so với giá bán của cơ sở kinh doanh thương mại từ 10% xuống 7%, đồng thời làm rõ cách xác định thế nào là cơ sở kinh doanh thương mại, cụ thể như sau:

    Trường hợp cơ sở nhập khẩu hàng hóa chịu thuế TTĐB (trừ ô tô dưới 24 chỗ và xăng các loại), cơ sở sản xuất hàng hóa chịu thuế TTĐB (trừ ô tô dưới 24 chỗ) bán hàng cho các cơ sở kinh doanh thương mại thì giá làm căn cứ tính thuế TTĐB là giá bán của cơ sở nhập khẩu, cơ sở sản xuất mặt hàng chịu thuế TTĐB bán ra nhưng không được thấp hơn 7% so với giá bán bình quân trong tháng của cùng loại sản phẩm do các cơ sở kinh doanh thương mại bán ra.

    Trường hợp giá bán của cơ sở nhập khẩu hàng hóa chịu thuế TTĐB (trừ ô tô dưới 24 chỗ và xăng các loại) và giá bán của cơ sở sản xuất hàng hóa chịu thuế TTĐB (trừ ô tô dưới 24 chỗ) thấp hơn 7% so với giá bán bình quân trong tháng của cùng loại sản phẩm do cơ sở kinh doanh thương mại bán ra thì giá tính thuế TTĐB là giá do cơ quan thuế ấn định theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

    Cơ sở kinh doanh thương mại quy định tại điểm này là cơ sở không có quan hệ công ty mẹ, công ty con, hoặc công ty con trong cùng công ty mẹ với cơ sở nhập khẩu, cơ sở sản xuất và là cơ sở đầu tiên trong khâu lưu thông thương mại có hợp đồng mua bán hàng hóa với cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu hoặc có hợp đồng mua bán hàng hóa với công ty mẹ, công ty con, công ty con trong cùng công ty mẹ với cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu hàng hóa chịu thuế TTĐB. Quan hệ công ty mẹ, công ty con được xác định theo quy định của Luật doanh nghiệp.

    c. Sửa đổi, bổ sung quy định về giá tính thuế đối với trường hợp cơ sở nhập khẩu, cơ sở sản xuất, lắp ráp ô tô dưới 24 chỗ bán hàng cho các cơ sở kinh doanh thương mại, cụ thể như sau:

    Đối với cơ sở nhập khẩu ô tô dưới 24 chỗ, giá làm căn cứ tính thuế TTĐB là giá bán của cơ sở nhập khẩu nhưng không được thấp hơn 105% giá vốn xe nhập khẩu. Giá vốn xe nhập khẩu bao gồm: giá tính thuế nhập khẩu cộng (+) thuế nhập khẩu (nếu có) cộng (+) thuế TTĐB tại khâu nhập khẩu. Trường hợp giá bán của cơ sở nhập khẩu ô tô dưới 24 chỗ thấp hơn 105% giá vốn xe nhập khẩu thì giá tính thuế TTĐB là giá do cơ quan thuế ấn định theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

    Đối với cơ sở sản xuất, lắp ráp ô tô dưới 24 chỗ, giá làm căn cứ tính thuế TTĐB là giá bán trong tháng của cùng loại sản phẩm do cơ sở sản xuất nhưng không được thấp hơn 7% so với giá bán bình quân của các cơ sở kinh doanh thương mại bán ra. Giá bán bình quân của các cơ sở kinh doanh thương mại để so sánh là giá bán xe ô tô chưa bao gồm các lựa chọn về trang thiết bị, phụ tùng mà cơ sở kinh doanh thương mại lắp đặt thêm theo yêu cầu của khách hàng. Trường hợp giá bán của cơ sở sản xuất, lắp ráp ô tô dưới 24 chỗ thấp hơn 7% so với giá bán bình quân trong tháng của cùng loại sản phẩm do cơ sở kinh doanh thương mại bán ra thì giá tính thuế TTĐB là giá do cơ quan thuế ấn định theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

    d. Bổ sung làm rõ giá tính thuế TTĐB đối với mặt hàng thuốc lá, cụ thể như sau:

    Giá tính thuế TTĐB đối với hàng hóa, dịch vụ quy định từ khoản 1 đến khoản 9 Điều 5 Thông tư số 195/2015/TT-BTC  bao gồm cả khoản thu thêm tính ngoài giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ (nếu có) mà cơ sở sản xuất kinh doanh được hưởng. Riêng đối với mặt hàng thuốc lá giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt bao gồm cả khoản đóng góp bắt buộc và kinh phí hỗ trợ quy định tại Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá.

    Tong hop diem moi Thong tu 195_2015_TT_BTC

    2. Về khấu trừ thuế TTĐB được bổ sung như sau:

    a. Người nộp thuế sản xuất hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB bằng các nguyên liệu chịu thuế TTĐB được khấu trừ số thuế TTĐB đã nộp đối với nguyên liệu nhập khẩu hoặc đã trả đối với nguyên liệu mua trực tiếp từ cơ sở sản xuất trong nước khi xác định số thuế TTĐB phải nộp. Số thuế TTĐB được khấu trừ tương ứng với số thuế TTĐB của nguyên liệu đã sử dụng để sản xuất hàng hóa bán ra. Số thuế TTĐB chưa được khấu trừ hết trong kỳ thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo.

    Đối với xăng sinh học, số thuế TTĐB được khấu trừ của kỳ khai thuế được căn cứ vào số thuế TTĐB đã nộp hoặc đã trả trên một đơn vị nguyên liệu mua vào của kỳ khai thuế trước liền kề của xăng khoáng để sản xuất xăng sinh học.

    b. Người nộp thuế TTĐB đối với hàng hóa chịu thuế TTĐB nhập khẩu (trừ xăng các loại) được khấu trừ số thuế TTĐB đã nộp ở khâu nhập khẩu khi xác định số thuế TTĐB phải nộp bán ra trong nước. Số thuế TTĐB được khấu trừ tương ứng với số thuế TTĐB của hàng hóa chịu thuế TTĐB nhập khẩu bán ra và chỉ được khấu trừ tối đa bằng tương ứng số thuế TTĐB tính được ở khâu bán ra trong nước. Trường hợp đặc biệt đối với số thuế TTĐB không được khấu trừ hết do nguyên nhân khách quan bất khả kháng, người nộp thuế được hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Điều kiện khấu trừ thuế TTĐB được quy định như sau:

    - Đối với trường hợp nhập khẩu nguyên liệu chịu thuế TTĐB để sản xuất hàng hoá chịu thuế TTĐB và trường hợp nhập khẩu hàng hóa chịu thuế TTĐB thì chứng từ để làm căn cứ khấu trừ thuế TTĐB là chứng từ nộp thuế TTĐB khâu nhập khẩu.

    - Đối với trường hợp mua nguyên liệu trực tiếp của nhà sản xuất trong nước:

       + Hợp đồng mua bán hàng hoá, trong hợp đồng phải có nội dung thể hiện hàng hóa do cơ sở bán hàng trực tiếp sản xuất; Bản sao Giấy chứng nhận kinh doanh của cơ sở bán hàng (có chữ ký, đóng dấu của cơ sở bán hàng).

      + Chứng từ thanh toán qua ngân hàng.

      + Chứng từ để làm căn cứ khấu trừ thuế TTĐB là hoá đơn GTGT khi mua hàng. Số thuế TTĐB mà đơn vị mua hàng đã trả khi mua nguyên liệu được xác định = giá tính thuế TTĐB nhân (x) thuế suất thuế TTĐB; trong đó:

     

     

     

    Giá tính thuế

    TTĐB

     

     

     

    =

     

    Giá mua chưa

    có thuế GTGT

    (thể hiện trên hóa đơn GTGT)

     

     

    -

     

     

    Thuế bảo vệ môi trường

    (nếu có)

    1 + Thuế suất thuế TTĐB

    Việc khấu trừ tiền thuế TTĐB được thực hiện khi kê khai thuế TTĐB, thuế TTĐB phải nộp được xác định theo công thức sau:

    Số thuế TTĐB phải nộp

    =

    Số thuế TTĐB của hàng hoá chịu thuế TTĐB được bán ra  trong kỳ.

    -

    Số thuế TTĐB đã nộp đối với hàng hóa, nguyên liệu  ở khâu nhập khẩu hoặc số thuế TTĐB đã trả ở khâu nguyên liệu mua vào tương ứng với số hàng hoá được bán ra trong kỳ.

     

    Trường hợp chưa xác định được chính xác số thuế TTĐB đã nộp (hoặc đã trả) cho số nguyên vật liệu tương ứng với số sản phẩm tiêu thụ trong kỳ thì có thể căn cứ vào số liệu của kỳ trước để tính số thuế TTĐB được khấu trừ và sẽ xác định theo số thực tế vào cuối quý, cuối năm. Trong mọi trường hợp, số thuế TTĐB được phép khấu trừ tối đa không vượt quá số thuế TTĐB tính cho phần nguyên liệu theo tiêu chuẩn định mức kinh tế kỹ thuật của sản phẩm. Cơ sở sản xuất phải đăng ký định mức kinh tế kỹ thuật của sản phẩm với cơ quan thuế trực tiếp quản lý cơ sở.

    3. Bổ sung quy định về nơi kê khai, nộp thuế TTĐB của các doanh nghiệp sản xuất xăng sinh học, cụ thể như sau:

    Đối với các doanh nghiệp được phép sản xuất xăng E5, E10, việc kê khai nộp thuế, khấu trừ thuế TTĐB được thực hiện tại cơ quan thuế địa phương nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính. Số thuế TTĐB chưa được khấu trừ hết trong kỳ của xăng E5, E10 được bù trừ với số thuế TTĐB phải nộp của hàng hóa, dịch vụ khác.

    4. Bổ sung hồ sơ khai thuế TTĐB:

    Người nộp thuế TTĐB thực hiện nộp Tờ khai thuế TTĐB theo Mẫu số 01/TTĐB và Bảng xác định thuế TTĐB được khấu trừ (nếu có) của nguyên liệu mua vào, hàng hóa nhập khẩu (Mẫu số 01-1/TTĐB) được ban hành kèm theo Thông tư 195/2015/TT-BTC.

    5. Sửa đổi, bổ sung quy định hướng dẫn về trường hợp không thuộc diện chịu thuế TTĐB, cụ thể như sau:

    - Hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan, hàng hoá từ nội địa bán vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan, hàng hoá được mua bán giữa các khu phi thuế quan với nhau, trừ hai loại hàng hóa sau: hàng hóa được đưa vào khu được áp dụng quy chế khu phi thuế quan có dân cư sinh sống, không có hàng rào cứng và xe ô tô chở người dưới 24 chỗ.

    - Tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, kinh doanh du lịch và tàu bay sử dụng cho mục đích an ninh, quốc phòng.

    Nội dung tổng hợp được đề cập tại Công văn 5362 /TCT-CS ngày 14/12/2015.

  • 14/12/2015, 11:15:45 SA | Trong chuyên mục Vấn đề pháp lý khác

    Pháp lệnh 16/2011/UBTVQH nêu rõ các đối tượng được trang bị vũ khí quân dụng bao gồm: Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Dân quân tự vệ, Kiểm lâm, lực lượng chuyên trách chống buôn lậu của Hải quan, đơn vị Hải quan cửa khẩu, An ninh hàng không.

    Súng là một loại vũ khí được trang bị cho các lực lượng trên. Tuy nhiên việc sử dụng súng phải đảm báo các nguyên tắc để tránh sự lạm dụng, sử dụng bừa bãi gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng người khác.

    Sau đây là 7 trường hợp được quyền nổ súng được quy định trong Pháp lệnh 16/2011/UBTVQH:

    -  Đối tượng đang sử dụng vũ lực, vũ khí, vật liệu nổ trực tiếp đe dọa đến tính mạng người thi hành công vụ hoặc người khác;

    -  Đối tượng đang sử dụng vũ khí, vật liệu nổ tấn công hoặc đe dọa sự an toàn của công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, mục tiêu quan trọng được bảo vệ theo quy định của pháp luật;

    -  Đối tượng đang thực hiện hành vi cướp súng của người thi hành công vụ;

    -  Đối tượng đang sử dụng vũ khí gây rối trật tự công cộng có thể gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng;

    -  Đối tượng đang đánh tháo người bị giam, người bị dẫn giải do phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tái phạm nguy hiểm; người bị giam, giữ, bị dẫn giải, bị áp giải do phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đang chạy trốn hoặc chống lại;

    -  Được phép bắn vào phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông đường thủy nội địa để dừng phương tiện đó trong các trường hợp sau, trừ phương tiện giao thông của các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế:

    Đối tượng điều khiển phương tiện đó tấn công hoặc đe doạ trực tiếp đến tính mạng người thi hành công vụ hoặc người khác;

    Khi biết rõ phương tiện đó do đối tượng phạm tội điều khiển cố tình chạy trốn, trừ trường hợp trên phương tiện có chở khách hoặc có con tin;

    Khi biết rõ trên phương tiện cố tình chạy trốn có đối tượng phạm tội hoặc vũ khí, vật liệu nổ trái phép, tài liệu phản động, bí mật nhà nước, ma túy số lượng lớn, tài sản đặc biệt quý hiếm, bảo vật quốc gia, trừ trường hợp trên phương tiện có chở khách hoặc có con tin;

    -  Động vật đang đe dọa đến tính mạng và sức khỏe của người thi hành công vụ hoặc người khác.

     

    Người được trang bị các công cụ hỗ trợ cũng chỉ được sử dụng công cụ hỗ trợ trong các trường hợp như nêu trên.

  • 14/12/2015, 11:10:45 SA | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    Quản tài viên là cá nhân hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản. Luật Phá sản 2014 và nghị định 22/2015/NĐ-CP quy định chi tiết về chức danh quản tài viên.

    Trong quá trình giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, quản tài viên đóng vai trò hết sức quan trọng. Trước đây, luật Phá sản không được áp dụng rộng rãi. Nhưng với luật Phá sản 2014, với khả năng giải quyết triệt để các vấn đề của doanh nghiệp, hợp tác xã trong quá trình phá sản.

    Luật Phá sản 2014 đã mở ra một cơ hội vô cùng lớn đồi với chức danh quản tài viên. Quản tài viên thực hiện quyền quản lý tài sản, giám sát hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán

    -  Xác minh, thu thập, quản lý tài liệu, chứng cứ liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán

    -  Bảo quản tài sản, ngăn chặn việc bán, chuyển giao tài sản, tẩu tán tài sản, tối đa hóa giá trị của tài sản khi bán, thanh lý;

    -  Giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;

    -  Đề xuất việc bán tài sản, bán tài sản theo quyết định của Thẩm phán để đảm bảo chi phí phá sản;

    -  Tổ chức định giá và thanh lý tài sản.

    Quản tài viên đại diện cho doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không có người đại diện theo pháp luật.

    Quản tài viên đảm bảo sự công bằng trong việc thanh lý tài sản giữa chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã khi rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

    Chi phí cho quản tài viên bao gồm thù lao và các khoản chi phí khác. Thù lao được tính dựa trên thời gian, công sức của quản tài viên sử dụng để thực hiện công việc và kết quả thực hiện nhiệm vụ.

    Mức thù lao được xác định cụ thể trong từng trường hợp:

    -  Đối với trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ thủ tục phá sản thì thù lao do Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản và quản tài viên toat thuận trên cơ sở dựa váo một hoặc các phương thức:

    + Giờ làm việc của quản tài viên;

    + Mức thù lao trọn gói;

    + Tính theo tỷ lệ phần trăm tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp.

    -  Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản thì mức thù lao được tính theo phần trăm tổng giá trị tài sản thu được sau khi thanh lý.

    -  Nếu tài sản trên 100 triệu đồng thì mức thù lao được tính theo mức lương cơ sở của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang (cao nhất là 36 tháng) cộng với phần trăm giá trị tài sản thu được sau thanh lý.

     

    Để hành nghề quản tài viên cần có chứng chỉ hành nghề quản nghề quản tài viên. Người có các điều kiện sau có thể được cấp chứng chỉ hành ngề quản tài viên:

    - Luật sư;

    - Kiểm toán viên;

    - Có tình độ cử nhân luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có kinh nghiệm 5 năm trở lên về lĩnh vực được đào tạo.

    Người muốn hành nghề quản lý, thanh lý tài sản phải lập hồ sơ gửi đến Bộ Tư pháp để đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề quản tài viên.

  • 14/12/2015, 11:04:23 SA | Trong chuyên mục Dự thảo Luật mới

    nguyenanh1292
    nguyenanh1292
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/04/2014
    Tổng số bài viết (2249)
    Số điểm: 35557
    Cảm ơn: 289
    Được cảm ơn 2314 lần


    Theo kế hoạch phân công, lẽ ra tháng 9/2015 vừa qua, các cơ quan, ban ngành có liên quan đã phải ban hành Nghị định hướng dẫn Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân.

    Tuy nhiên, đến nay Nghị định này vẫn chưa được ban hành. Các cơ quan, ban ngành được phân công đã công bố dự thảo để lấy ý kiến rộng rãi dự thảo này nhằm sớm ban hành Nghị định này trong năm 2015.

    Giới thiệu một số điểm mới nổi bật của dự thảo này như sau:

    1. Chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ

    - Chế độ thai sản của người lao động bao gồm sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp Quân đội nhân dân (QĐND); sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân (CAND), người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân khi mang thai hộ theo Khoản 1 Điều 35 Luật Bảo hiểm xã hội, được quy định như sau:

    + Nữ quân nhân, nữ CAND, nữ làm công tác cơ yếu mang thai hộ đang đóng BHXH bắt buộc vào quỹ ốm đau và thai sản, trong thời gian mang thai được nghỉ việc để đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày; trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc lao động nữ mang thai hộ có bệnh lý hoặc thai nhi không bình thường thì được nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám thai.

    Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản tính theo ngày làm việc, không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

    - Lao động nữ mang thai hộ đang đóng BHXH bắt buộc vào quỹ ốm đau và thai sản, khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.

    Thời gian nghỉ việc tối đa được quy định như sau:

    + 10 ngày nếu thai dưới 05 tuần tuổi.

    + 20 ngày nếu thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi.

    + 40 ngày nếu thai từ 13 tuần tuổi đến dưới 25 tuần tuổi.

    + 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên.

    Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

    - Lao động nữ mang thai hộ khi sinh mà có đủ điều kiện quy định tại Khoản 2 hoặc Khoản 3 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội thì được hưởng các chế độ sau:

    + Trợ cấp một lần cho mỗi đứa trẻ bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ mang thai hộ sinh.

    + Nghỉ việc hưởng chế độ thai sản kể từ ngày nghỉ việc trước khi sinh cho đến ngày giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ nhưng không vượt quá thời gian quy định tại Khoản 1 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội.

    Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ hoặc thời điểm đứa trẻ chết mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì lao động nữ mang thai hộ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

    Thời điểm giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ là thời điểm ghi trong văn bản xác nhận thời điểm giao đứa trẻ của bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ.

    + Sau thời gian hưởng chế độ thai sản quy định nêu trên, trong 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khoẻ chưa phục hồi thì lao động nữ mang thai hộ được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ theo Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp lao động nữ mang thai hộ đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc trước thời điểm sinh.

    - Khi lao động nữ mang thai hộ sinh thì người chồng đang đóng BHXH bắt buộc vào quỹ ốm đau và thai sản được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo khoản 2 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội.

    - Mức hưởng chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ được thực hiện theo Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội và được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ.

    Trường hợp lao động nữ mang thai hộ đóng BHXH chưa đủ 06 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản là mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng BHXH.

    - Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì tháng đó được tính là thời gian đóng BHXH, thời gian này lao động nữ mang thai hộ và người sử dụng lao động không phải đóng BHXH.

    - Trường hợp lao động nữ mang thai hộ đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc trước thời điểm sinh và có đủ điều kiện theo Khoản 2 hoặc Khoản 3 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội thì vẫn được hưởng chế độ thai sản bao gồm trợ cấp 01 lần, nghỉ việc trước khi sinh, mức hưởng BHXH; thời gian hưởng chế độ thai sản không được tính là thời gian đóng BHXH.

    2. Chế độ thai sản của người mẹ nhờ mang thai hộ  

    Chế độ thai sản của người lao động gồm sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp QĐND; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật CAND, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân theo Khoản 2 Điều 35 Luật Bảo hiểm xã hội, được quy định như sau:

    - Nữ quân nhân, nữ CAND, nữ làm công tác cơ yếu nhờ mang thai hộ đã đóng BHXH bắt buộc vào quỹ ốm đau và thai sản theo Khoản 2 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội, được hưởng các chế độ sau:

    + Trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ mang thai hộ sinh trong trường hợp lao động nữ mang thai hộ không tham gia BHXH bắt buộc hoặc không đủ điều kiện quy định tại Khoản 2 hoặc Khoản 3 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội.

    Trường hợp cả lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ không tham gia BHXH bắt buộc hoặc không đủ điều kiện quy định tại Khoản 2 hoặc Khoản 3 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội thì người chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ đang đóng BHXH bắt buộc vào quỹ ốm đau và thai sản được hưởng trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh cho mỗi con.

    + Được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Trường hợp sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ thêm 01 tháng.

    Trường hợp người mẹ nhờ mang thai hộ không nghỉ việc thì ngoài tiền lương vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định.

    + Trường hợp người mẹ nhờ mang thai hộ chết hoặc gặp rủi ro mà không còn đủ sức khoẻ để chăm sóc con theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền khi con chưa đủ 06 tháng tuổi thì người chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ nhờ mang thai hộ theo quy định nêu trên.

    + Trường hợp người chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng nêu trên đang tham gia BHXH bắt buộc mà không nghỉ việc thì ngoài tiền lương còn được hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ nhờ mang thai hộ.

    + Trường hợp sau khi sinh, nếu con chưa đủ 06 tháng tuổi mà bị chết thì người mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo Khoản 3 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội.

    - Mức hưởng chế độ thai sản của người mẹ nhờ mang thai hộ được thực hiện theo Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội và được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của người mẹ nhờ mang thai hộ.

    - Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì tháng đó được tính là thời gian đóng BHXH, thời gian này người mẹ nhờ mang thai hộ và người sử dụng lao động không phải đóng BHXH.

    - Trường hợp người mẹ nhờ mang thai hộ đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc trước thời điểm nhận con và có đủ điều kiện theo Khoản 2 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội, được hưởng chế độ thai sản quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này; thời gian hưởng chế độ thai sản không được tính là thời gian đóng BHXH.

    3. Thủ tục hưởng chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ

    - Đối với trường hợp hưởng chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ khi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý, gồm:

    + Bản chính hoặc bản sao giấy ra viện đối với trường hợp điều trị nội trú.

    + Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH đối với trường hợp điều trị ngoại trú.

    - Đối với trường hợp hưởng chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ khi sinh, bao gồm:

    + Bản sao bản thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Điều 96 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; văn bản xác nhận thời điểm giao đứa trẻ của bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ.

    + Bản sao giấy khai sinh hoặc bản sao giấy chứng sinh của đứa trẻ.

    + Trường hợp đứa trẻ chết mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì có thêm bản sao giấy chứng tử của đứa trẻ.

    + Trong trường hợp đứa trẻ chết sau khi sinh mà chưa được cấp giấy chứng sinh thì có thêm bản trích sao hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện của lao động nữ mang thai hộ.

    + Trong trường hợp sau khi sinh mà lao động nữ mang thai hộ chết, có thêm bản sao giấy chứng tử hoặc giấy báo tử của lao động nữ mang thai hộ.

    + Trong trường hợp lao động nữ mang thai hộ khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì có thêm giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.

    - Đối với trường hợp hưởng chế độ thai sản của người mẹ nhờ mang thai hộ khi lao động nữ mang thai hộ sinh, bao gồm:

    + Bản sao bản thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Điều 96 Luật Hôn nhân gia đình 2014; văn bản xác nhận thời điểm giao đứa trẻ của bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ.

    + Bản sao giấy khai sinh hoặc giấy chứng sinh của con.

    + Trong trường hợp người mẹ nhờ mang thai hộ chết thì có thêm bản sao giấy chứng tử hoặc giấy báo tử.

    + Trong trường hợp người mẹ nhờ mang thai hộ không còn đủ sức khoẻ để chăm sóc con thì có thêm giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.

    + Trường hợp con chưa đủ 06 tháng tuổi bị chết thì có thêm bản sao giấy chứng tử của con.

    - Ngoài các hồ sơ quy định cho từng trường hợp nêu trên, cơ quan quản lý nhân sự của người sử dụng lao động lập thêm danh sách người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.

    - Đối với trường hợp hưởng chế độ thai sản của người chồng khi lao động nữ mang thai hộ sinh, được thực hiện theo Khoản 4 Điều 101 Luật Bảo hiểm xã hội.

    - Giải quyết hưởng chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ được thực hiện theo Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội. Cụ thể như sau:

    + Trong thời hạn không quá 45 ngày kể từ ngày trở lại làm việc, người lao động hoặc thân nhân của người lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ quy định tại Khoản 1 hoặc tại Khoản 2 hoặc tại Khoản 3 hoặc tại Khoản 5 Điều này cho người sử dụng lao động.

    Trường hợp người lao động đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc trước thời điểm sinh, thời điểm nhận con thì nộp hồ sơ và xuất trình sổ bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội nơi cư trú.

    + Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định từ người lao động hoặc thân nhân người lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm lập hồ sơ theo quy định tại Khoản 4 Điều này và nộp cho cơ quan BHXH.

    + Trong thời hạn 10 làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định, cơ quan BHXH có trách nhiệm giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động hoặc thân nhân người lao động.

    Đối với trường hợp người lao động đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc trước thời điểm sinh, thời điểm nhận con thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định, cơ quan BHXH nơi người lao động cư trú có trách nhiệm giải quyết và chi trả cho người lao động hoặc thân nhân người lao động.

    Trường hợp cơ quan BHXH không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    - Giải quyết hưởng chế độ dưỡng sức phục hồi sức khoẻ sau thai sản của lao động nữ mang thai hộ thực hiện theo Điều 103 Luật Bảo hiểm xã hội.

    - Việc giải quyết hưởng chế độ BHXH chậm so với thời gian quy định được thực hiện theo quy định tại Điều 116 Luật Bảo hiểm xã hội.  

    Nghị định này sẽ có hiệu lực từ năm 2016. Xem chi tiết toàn văn Nghị định này tại file đính kèm.

  • 14/12/2015, 09:56:50 SA | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    pkd.cic
    pkd.cic

    Sơ sinh


    Tham gia:28/01/2015
    Tổng số bài viết (15)
    Số điểm: 300
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 3 lần


    Chào các ban! Mình thi hết tập sự hành nghề luật sư đợt 2 năm 2015. Các bạn đã, đang và sẽ thi có kinh nghiệm gì thì chia sẽ nhé.cảm ơn các ban.

  • 13/12/2015, 10:26:18 SA | Trong chuyên mục Vướng mắc pháp lý

    LuatsuVuNhuHao
    LuatsuVuNhuHao

    Male
    Sơ sinh

    Khánh Hoà, Việt Nam
    Tham gia:13/12/2015
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 25
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Với xu thế hội nhập, chính sách miễn thị thực sẽ tạo điều kiện thu hút du khách nước ngoài vào du lịch và đầu tư tại Việt Nam. Đây được coi là chiến lược phát triển nghành du lịch của Việt Nam. Vậy miễn thị thực là gì? những trường hợp nào được miễn thị thực Việt Nam?
    Sau đây, Văn phòng Luật sư Vũ Như Hảo & Cộng sự xin giới thiệu một số vấn pháp lý đề về miễn thị thực Việt Nam.

    #ff0000; font-size: 14pt;">1. Miễn thị thực là gì? Có mấy loại miễn thị thực.
    Miễn thị thực hay miễn visa là việc người nước ngoài nhập cảnh vào một nước không phải xin thị thực hoặc xin visa vì quốc gia của họ có ký kết các hiệp định/hiệp ước về miễn thị thực với nhau, có thể là miễn thị thực đơn phương hay song phương. Ngược lại, nếu một công dân nước ngoài không thuộc quốc gia miễn thị thực thì bắt buộc phải xin visa trước khi vào Việt Nam.
    Hiện nay, có thể chia thành hai loại miễn thị thực như sau:
    Miễn thị thực đương nhiên là miễn thị thực cho những công dân thuộc những quốc gia có ký kết hiệp định miễn thị thực với Việt Nam, ví dụ các quốc gia ASEAN hay Nhật Bản, Hàn Quốc đến Việt Nam sẽ được miễn thị thực 15 ngày. Đặc biệt, vào ngày 18/6/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 46/NQ-CP về miễn thị thực cho công dân 5 nước là Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Italy. Với trường hợp này khi đề nghị cấp giấy miễn thị thực không mất phí.
    Miễn thị thực 5 năm: áp dụng cho Người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của công dân Việt Nam hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Trường hợp này khi xin miễn thị thực công dân phải nộp phí cho cơ quan Nhà nước. Các điều kiện để được miễn thị thực bao gồm: có hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế còn giá trị ít nhất một năm; có giấy tờ chứng minh là người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc của công dân Việt Nam.
    Đây là loại hình miễn thị thực đặc biệt để hưởng quy chế này người muốn xin miễn thị thực Việt Nam phải xin giấy miễn thị thực. Người đề nghị cấp giấy miễn thị thực đang cư trú ở nước ngoài phải nộp hồ sơ theo quy định tại cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực của Việt Nam ở nước ngoài. Người đang tạm trú tại Việt Nam có nhu cầu cấp giấy miễn thị thực nộp hồ sơ theo quy tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh.
    Giấy miễn thị thực có thời hạn tối đa không quá 5 năm và ngắn hơn thời hạn sử dụng của hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế của người được cấp ít nhất 6 tháng.
    #ff0000; font-size: 14pt;">2. Các trường hợp được miễn thị thực theo pháp luật hiện hành
    Các trường hợp được miễn thị thực được quy định tại Điều 12, 13 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Cụ thể như sau:
    Điều 12. Các trường hợp được miễn thị thực
    1. Theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
    2. Sử dụng thẻ thường trú, thẻ tạm trú theo quy định của Luật này.
    3. Vào khu kinh tế cửa khẩu, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.
    4. Theo quy định tại Điều 13 của Luật này.
    5. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp và người nước ngoài là vợ, chồng, con của họ; người nước ngoài là vợ, chồng, con của công dân Việt Nam được miễn thị thực theo quy định của Chính phủ.
    Điều 13. Đơn phương miễn thị thực
    1. Quyết định đơn phương miễn thị thực cho công dân của một nước phải có đủ các điều kiện sau đây:
    a) Có quan hệ ngoại giao với Việt Nam;
    b) Phù hợp với chính sách phát triển kinh tế – xã hội và đối ngoại của Việt Nam trong từng thời kỳ;
    c) Không làm phương hại đến quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam.
    2. Quyết định đơn phương miễn thị thực có thời hạn không quá 05 năm và được xem xét gia hạn. Quyết định đơn phương miễn thị thực bị hủy bỏ nếu không đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này.
    3. Căn cứ quy định của Điều này, Chính phủ quyết định đơn phương miễn thị thực có thời hạn đối với từng nước.
    Trên đây là một số vấn đề về miễn thị thực Việt Nam. Việc quy định và mở rộng thêm đối tượng miễn thị thực Việt Nam sẽ tạo cơ hội thúc đẩy ngành du lịch nước ta ngày càng phát triển hơn.
    Nếu quý khách hàng gặp vướng mắc khi tiến hành thủ tục xin cấp giấy miễn thị thực, hãy liên hệ ngay với Văn phòng Luật sư chúng tôi theo các phương tiện dưới đây để được chúng tôi hướng dẫn.

    Luật sư – Thạc sĩ: Vũ Như Hảo
    www.LuatSuNhaTrang.vn
    Skype: vu.nhu.hao
    Yahoo Messenger: hao_vunhu@yahoo.com
    E-mail: LawyerVuNhuHao@Gmail.com
    Facebook:
    https://www.facebook.com/LuatsuNhaTrang 
    Cellphone: 0914 086292

  • 12/12/2015, 10:20:29 CH | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    duongtuyen98
    duongtuyen98

    Sơ sinh

    Bắc Giang, Việt Nam
    Tham gia:12/12/2015
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


     Hải quan sân bay Nội Bài thành phố Hà Nội đã phát hiện và tạm giữ lô hàng trị giá 50.000.000 đồng của Phạm Thị H (là tiếp viên của hãng hàng không VA) do khai báo không đầy đủ trên tờ khai hải quan nhằm trốn thuế. Sau 10 ngày tạm giữ hàng hóa, Chi cục trưởng Chi cục hải quan sân bay Nội Bài đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính của bà H, quyết định này đã áp dụng hình thức phạt tiền 10.000.000 đồng và tịch thu toàn bộ lô hàng đã bị tạm giữ nêu trên.

    Bà H cho rằng quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chi cục trưởng Chi cục hải quan sân bay Nội Bài là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Vậy theo quy định của pháp luật hiện hành, bà H có thể làm gì để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình? Nêu rõ căn cứ pháp lý cho câu trả lời của bạn.

  • 12/12/2015, 04:07:49 CH | Trong chuyên mục Kế toán - Kiểm toán

    thhuong17
    thhuong17

    Sơ sinh

    Đà Nẵng, Việt Nam
    Tham gia:28/04/2012
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 25
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 0 lần


    Kính thưa Luật Sư!

    - Công ty em thành lập chi nhánh và hoạt động độc lập, khi ký hợp đồng với khách hàng chi nhánh đúng ra ký, xuất hóa đơn cho khách hàng cũng là hóa đơn của chi nhánh và doanh thu chuyển về tài khoản ngân hàng của chi nhánh. Nhưng do nhu cầu sản xuất kinh doanh công ty mẹ đứng ra vay vốn tại tài khoản ngân hàng của công ty mẹ, ngân hàng của tài khoản công ty mẹ yêu cầu nguồn doanh thu từ chi nhánh phải điều chuyển về tài khoản của công ty mẹ mới được giải ngân, Vậy cho em xin hỏi luật sư trường hợp ấy em làm như thế nào cho hợp lý? nếu  điều chuyển tiền từ chi nhánh về công ty mẹ thì kế toán phải hạch toán như thế nào?

248 Trang «<42434445464748>»

0 Thành viên đang online
-