DanLuat 2015

Chủ đề chưa có phản hồi

252 Trang «<42434445464748>»
  • 08/01/2016, 12:33:38 CH | Trong chuyên mục Doanh nghiệp & Đầu tư

    hemvanh
    hemvanh

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/01/2016
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Kính thưa Luật sư,

    Hiện công ty em đang có nhu cầu nhập 1 lô hóa chất Foam PCCC AFFF 3%, về phần nhập khẩu thì đã có logistics lo giấy tờ để thông quan, nhưng còn để được phép bán lô hóa chất này cho khách hàng thì mình cần phải xin phép gì ạ?

    Có cần đăng ký thêm ngành nghề kinh doanh hóa chất trong giấy phép kinh doanh của mình không, hoặc còn những thủ tục nào nữa xin các Luật Sư tư vấn giúp em với ạ.

     

    Em xin chân thành cảm ơn!

  • 08/01/2016, 11:13:55 SA | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    nguyenanh1292
    nguyenanh1292
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/04/2014
    Tổng số bài viết (2370)
    Số điểm: 37442
    Cảm ơn: 333
    Được cảm ơn 2455 lần


    Quyết định 07/QĐ-TTg năm 2016 có hiệu lực đúng vào ngày 09/01/2016, như là món quà tặng dành cho các bạn học sinh sinh viên khi mức cho vay tín dụng đối với học sinh, sinh viên tăng từ 1.1 triệu đồng lên 1.25 triệu đồng.

    mức cho vay đối với HSSV

    Được biết, mức cho vay này áp dụng hỗ trợ cho các bạn học sinh, sinh viên thuộc một trong các trường hợp sau:

    - Học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động.

    - Học sinh, sinh viên là thành viên của hộ gia đình thuộc một trong các đối tượng: hộ nghèo, hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người tối đa bằng 150% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình nghèo.

    - Học sinh, sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh trong thời gian theo học có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú.

  • 08/01/2016, 10:21:09 SA | Trong chuyên mục Dự thảo Luật mới

    nguyenanh1292
    nguyenanh1292
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/04/2014
    Tổng số bài viết (2370)
    Số điểm: 37442
    Cảm ơn: 333
    Được cảm ơn 2455 lần


    Từ ngày 01/7/2016, Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 bắt đầu có hiệu lực. Luật này được ban hành nhằm quy định chặt chẽ về các chế độ bảo đảm an toàn cho người lao động trong quá trình làm việc.

    Như vậy, để kịp thời hướng dẫn thực hiện Luật này, Bộ Lao động Thương binh Xã hội vừa công bố 02 dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015.

    Cụ thể, gồm 1 Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật an toàn vệ sinh lao động 2015 và 1 Nghị định hướng dẫn một số điều của Luật an toàn vệ sinh lao động về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc.

    Nghị định hướng dẫn Luật an toàn vệ sinh lao động

    Một trong những vấn đề quan trọng cần lưu ý đó là tai nạn lao động và các chế độ hưởng.

    Trước hết, cần phải phân loại tai nạn lao động:

    Tai nạn lao động gồm 03 loại:

    1. Tai nạn lao động làm chết người lao động. (chết ngay tại nơi xảy ra tai nạn, chết trên đường đi cấp cứu hoặc trong thời gian cấp cứu, chết trong thời gian điều trị hoặc chết do tái phát của chính vết thương do tai nạn lao động gây ra, được tuyên bố chế theo kết luận của Tòa án đối với trường hợp mất tích)

    2. Tai nạn lao động làm người lao động bị thương nặng. (phải nghỉ việc để điều trị thương tật ngay sau khi bị nạn từ 03 ngày trở lên theo kết luận của cơ quan y tế có thẩm quyền, bị thương tật nặng)

    3. Tai nạn lao động làm người lao động bị thương nhẹ.

    Khi xảy ra tai nạn lao động, người sử dụng lao động phải khai báo theo quy định sau:

    - Khi xảy ra tai nạn làm chết người hoặc bị thương nặng từ 02 người lao động trở lên: khai báo bằng cách nhanh nhất (trực tiếp hoặc điện thoại, fax, công điện, thư điện tử) ngay sau khi nhận được tin cho Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi xảy ra tai nạn và cơ quan Công an cấp huyện.

    Riêng lao động trong các lĩnh vực phóng xạ, thăm dò, khai thác dầu khí, các phương tiện vận tải đường sắt, đường thủy, đường bộ, đường hàng không và các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân phải báo cho các cơ quan trên và Bộ quản lý ngành lĩnh vực đó theo thẩm quyền trong vòng 12 giờ kể từ khi nhận tin.

    - Khi xảy ra tai nạn lao động đối với người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động: báo ngay sau khi biết sự việc lao động chết hoặc bị thương cho UBND cấp xã nơi xảy ra tai nạn lao động để lập biên bản vào sổ thống kê.

    Nếu từ 02 người trở lên phải báo nhanh nhất (trực tiếp hoặc điện thoại, fax, công điện, thư điện tử) cho cơ quan Công an cấp huyện và Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cấp tỉnh.

    Một số lưu ý việc hưởng chế độ tai nạn lao động đối với người lao động giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động

    Các chế độ được hưởng khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp gồm:

    - Trợ cấp tai nạn lao động trên cơ sở hợp đồng lao động có mức đóng cao nhất.

    - Các chế độ hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, chữa bệnh nghề nghiệp và phục hồi chức năng lao động.

    - Các chế độ BHXH khác trên cơ sở hợp đồng tham gia BHXH.

    Mức hỗ trợ đào tạo nghề chuyển đổi nghề nghiệp

    Mức hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề tối đa không quá 50% mức học phí và không quá 15 lần mức lương cơ sở.

    (Số lần hỗ trợ tối đa đối với mỗi người lao động là 02 lần và trong 01 năm chỉ được hỗ trợ 01 lần)

    Mức hỗ trợ khám bệnh nghề nghiệp

    Mức hỗ trợ kinh phí khám bệnh nghề nghiệp được tính theo biểu giá khám bệnh nghề nghiệp thực tế của từng bệnh, bằng 50% kinh phí khám cho từng trường hợp sau khi đã trừ phần chi phí hỗ trợ của BHYT.

    (Số lần hỗ trợ tối đa đối với mỗi người lao động là 02 lần và trong 01 năm chỉ được hỗ trợ 01 lần)

    Mức hỗ trợ điều trị bệnh nghề nghiệp

    Mức hỗ trợ kinh phí chữa bệnh nghề nghiệp tối đa bằng 10 lần mức lương cơ sở/người.

    Mức hỗ trợ cụ thể được tính theo biểu giá điều trị bệnh nghề nghiệp thực tế của từng bệnh, bằng 50% phần kinh phí thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động sau khi đã được BHYT chi trả.

    Mức hỗ trợ phục hồi chức năng lao động

    Mức hỗ trợ kinh phí phục hồi chức năng lao động tối đa bằng 5 lần mức lương cơ sở/người/lượt.

    Mức hỗ trợ cụ thể được tính theo biểu giá phục hồi chức năng thực tế của từng bệnh, bằng 50% phần kinh phí thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động sau khi đã được BHYT chi trả.

    (Số lần hỗ trợ tối đa đối với mỗi người lao động là 02 lần và trong 01 năm chỉ được hỗ trợ 01 lần)

    2 Nghị định hướng dẫn Luật an toàn vệ sinh lao động 2014 có hiệu lực từ 01/7/2016. (cùng thời điểm có hiệu lực của Luật an toàn vệ sinh lao động 2015)

  • 08/01/2016, 08:38:51 SA | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    trang_u
    trang_u
    Top 75
    Female
    Lớp 6

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:18/11/2015
    Tổng số bài viết (706)
    Số điểm: 8097
    Cảm ơn: 136
    Được cảm ơn 302 lần


    Gửi đến các bạn Dân Luật có ý định sẽ làm luật sư:

    “Suy nghĩ như một luật sư, tức là suy nghĩ như một con người – một con người khoan dung, tinh tế, thực dụng, có khả năng phản biện, và dấn thân – Anne-Marie Slaughter”

    Một trong những vấn đề mà sinh viên luật và cả giới luật sư trăn trở nhất là làm thế nào để tiếp cận một vấn đề pháp lý, một hồ sơ vụ việc một cách toàn diện nhất và hiệu quả nhất. Mục đích của việc tìm kiếm một phương pháp tư duy không hẳn chỉ là để giành chiến thắng ở tòa án, giải quyết xong một vụ việc, mà còn là để thấu hiểu bản chất của vấn đề và ý nghĩa của nghề luật sư. Luật Khoa tạp chí xin giới thiệu tới bạn đọc bài nói chuyện của bà Anne-Marie Slaughter, một luật sư và giáo sư luật người Mỹ, để phần nào giải đáp câu hỏi về cách tư duy của một luật sư. 

    Bà Anne-Marie Slaughter (sinh năm 1958) là một học giả, nhà phân tích về chính sách đối ngoại, Giám đốc ban Hoạch định Chính sách cho Bộ Ngoại giao Mỹ từ năm 2009 đến năm 2011 dưới thời Ngoại trưởng Hillary Clinton. Bà còn là một luật sư quốc tế, từng dạy ở Đại học Princeton, Chicago và Harvard, cựu chủ tịch Hiệp hội Công pháp Quốc tế Mỹ. Bài nói chuyện dưới đây của bà với các sinh viên năm thứ nhất trường luật là những lời của một người đi trước với các thế hệ luật sư kế tiếp trong tương lai.

    Trần Hà Linh (dịch)

    Các bạn bây giờ đang đi rất đúng hướng để đến một giai đoạn kỳ diệu; giai đoạn ấy là kết quả của năm đầu tiên của các bạn ở trường luật: suy nghĩ như một luật sư. Vậy chúng tôi đã dạy được gì cho các bạn?

    Trước tiên, suy nghĩ như một luật sư là các bạn suy nghĩ với một sự lưu tâm và chính xác, các bạn đọc và nói với một sự chú ý đến các sắc thái và chi tiết. Có nghĩa là, chú ý đến ngôn ngữ, nhưng cũng hiểu rằng câu chữ có vô vàn ý nghĩa và thường xuyên có thể bị nhào nặn. Vì vậy, điều ấy cũng có nghĩa là phải lưu tâm đến bối cảnh hiện tại và tương lai của ngôn ngữ. Tất cả những cái đó đều là một phần trong các kỹ năng, hay là nghệ thuật, của luật sư – vốn dĩ rất quan trọng, tự nó quan trọng, cũng như nó quan trọng với tư cách là phương tiện để đi đến một mục đích lớn hơn.

    Suy nghĩ như một luật sư còn có nghĩa là bạn có thể lập luận về bất cứ khía cạnh nào của vấn đề. Nhiều bạn phản đối lối dạy đó, cho rằng chúng tôi đang tước đi của các bạn các nguyên tắc và niềm tin cá nhân, biến bạn thành một khẩu súng bắn thuê. Ngược lại, học cách lập luận về những khía cạnh khác nhau của một vấn đề là học rằng cả hai bên tranh luận đều có những lập luận riêng, và học cách lắng nghe các lập luận đó. Đấy là cốt lõi của sự khoan dung – một giá trị mang tính khai phóng – và còn là điều kiện tiên quyết để có trật tự trong một xã hội đã lựa chọn dùng lời nói thay vì dùng súng đạn khi dính líu đến mâu thuẫn, xung đột. Niềm hy vọng tốt đẹp nhất của chúng ta là có được sự suy xét duy lý, là có thể cùng nhau giải quyết các vấn đề không phải bằng cách xóa bỏ hết mâu thuẫn, mà bằng cách chuyển hóa nó một cách hữu hiệu và hợp tác với nhau khi nào có thể.

    Suy nghĩ như một luật sư cũng có nghĩa là phải thực hiện việc đánh giá, phân biệt các lập luận kia, chọn lọc giữa lập luận tốt và lập luận tồi. Rồi đây các bạn sẽ hiểu được rằng có những lập luận được đưa ra một cách chân thành từ các bên đang đối đầu nhau, nhưng khi ấy, các bạn cũng phải biết cách bác bỏ một số lập luận, hay ít nhất, biết chọn lọc chúng. Các lập luận có thể kém bởi vì chúng không logic, vì chúng không đúng với thực tế hay không đúng với pháp luật, vì chúng dốt hay vì chúng vụn vặt. Lập luận cũng có thể tồi vì chúng thúc đẩy những chính sách dở, hoặc vì chúng phản ánh những thứ mà chúng ta lên án: phân biệt chủng tộc, hạ thấp nhân phẩm, tham lam… mời các bạn điền thêm vào chỗ trống. Học cách suy nghĩ như một luật sư, nghĩa là các bạn học cách bác bỏ một số lập luận và chấp nhận một số lập luận khác; và các bạn hiểu và có khả năng trình bày được tại sao lại như thế.

    Suy nghĩ như một luật sư nghĩa là các bạn kết hợp hiện thực với lý tưởng. Nghĩa là các bạn tin vào khả năng có được trật tự và công lý, tin vào niềm khao khát có được trật tự và công lý, và tin rằng luật pháp có thể giúp chúng ta đạt được hai thứ đó. Nhưng suy nghĩ như một luật sư lại cũng có nghĩa là hiểu được toàn bộ cái dải rộng của đạo đức con người, hiểu rằng những nguyên tắc to lớn sẽ vẫn chỉ là nguyên tắc trên giấy tờ trừ phi chúng được thực thi vì những động cơ nhân bản. Tuy nhiên, suy cho cùng, khái niệm luật pháp và những lý tưởng mà nó thúc đẩy chính là những gì luật sư đại diện. Là một người sống theo lý tưởng [idealist – người có lý tưởng và sống theo lý tưởng] khó hơn nhiều so với khi bạn có đầy đủ lý do để làm một kẻ ghét đời [cynic – trong triết học nghĩa là “khuyển nho”, tức là người hoài nghi, yếm thế, hay nghi ngờ và chỉ trích cay độc].

    Một trong các đồng nghiệp của tôi ở Chicago kết luận khi bế giảng năm đầu tiên của một lớp học về tố tụng dân sự: “Vào năm đầu tiên ở trường luật, đôi khi người ta học cách nghĩ như một luật sư, nhưng không hẳn như một con người. Các bạn đã học được điều đầu tiên trong mọi điều. Các bạn không nên để chúng tôi dạy tiếp các bạn năm thứ hai”. Tôi không đồng ý. Không có sự phân biệt năm nào ở đây cả. Suy nghĩ như một luật sư, tức là suy nghĩ như một con người – một con người khoan dung, tinh tế, thực dụng, có khả năng phản biện, và dấn thân. Nghĩa là kết hợp giữa niềm đam mê và những nguyên tắc, giữa suy luận và phán đoán.

    Tất cả các bạn đều đang đi đúng hướng trên con đường vươn tới việc suy nghĩ như những luật sư. Thật là một niềm vui sướng và cũng là một đặc ân khi được giúp các bạn đạt tới cái đích đó.

    Nguồn: Luật Khoa

  • 07/01/2016, 05:47:26 CH | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    trang_u
    trang_u
    Top 75
    Female
    Lớp 6

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:18/11/2015
    Tổng số bài viết (706)
    Số điểm: 8097
    Cảm ơn: 136
    Được cảm ơn 302 lần


    Một bài viết khá hay lý giải tại sao Dân Luật chúng ta phải học môn Triết học và càng phải học tốt môn này là tiền đề cho các môn về sau:

    Dân Luật phải học Triết

    Đào tạo và nghiên cứu pháp luật tại Hoa Kỳ trong hơn 150 năm qua đã phát triển với vai trò trung tâm của kinh tế học, tâm lý học hay sử học, bên cạnh các nguyên tắc học thuật khác. Trong đó, môn học mà theo quan điểm của người viết không được chú ý nhiều nhất, lại chính là Triết học.  Ơ bên kia Đại Tây Dương, nghiên cứu triết học về pháp luật đang dần trở thành điểm nhấn quan trọng của nền giáo dục pháp luật theo cả truyền thống pháp luật Anglophone (Thông luật Anh) hay truyền thống pháp luật lục địa.

    Vào những năm 1960 và 1970, Đại học Chicago mới bắt đầu áp dụng kỹ thuật phân tích kinh tế trong pháp luật do đại học này phát minh cho thế hệ sinh viên đang theo học. Nhưng ngay từ những lớp học luật được khai giảng cách đây hơn một thế kỷ, “luật học” – “Jurisprudence” (triết học pháp lý) là một trong số hàng tá các khoá học cung cấp cho những sinh viên khóa đầu tiên. Và quả thực, Chicago cũng là trường luật đầu tiên đã chỉ định một Tiến sĩ triết học trở thành giáo sư giảng dạy mà không cần trình độ luật vào thập niên 30. Tại sao lại như vậy?

    Lời giải thích dưới đây sẽ phần nào làm rõ được bản chất của triết học như là một nguyên tắc cấp thiết trong đào tạo pháp lý và làm rõ được mối quan hệ mật thiết giữa pháp luật và triết học.

    Môn học của lý lẽ và khái niệm

    Đầu tiên và quan trọng nhất, pháp luật là một môn học mang nguyên tắc biện luận: luật sư và các thẩm phán luôn sống trong khuôn khổ của lý lẽ và khái niệm. Chúng ta giải thích pháp luật và án lệ, liên kết những quy định để điều chỉnh hành vi và tranh luận về phương thức áp dụng chúng trong một số vụ án cụ thể. Thẩm phán viết ra những quan điểm và đưa ra lập luận cho những kết luận của họ. Luật sư đưa ra những luận cứ để thuyết phục thẩm phán. Ngay cả những luật sư chưa từng tranh luận tại phiên toà vẫn phải đối mặt với những quy định, ý nghĩa và hệ quả của nó.

    Triết học, trong tương quan, là môn học biện luận “thượng đẳng”. Nhà triết học người Anh John Campbell (hiện đang giảng dạy tại Berkeley) với nhận định nổi tiếng và sâu sắc của mình đã từng so sánh triết học như là “dòng suy nghĩ chậm” (“thinking in slow motion”). Thực hành pháp luật, đặc biệt là trong những cuộc tranh luận trước toà lại là những “dòng suy nghĩ đối ứng nhanh” (“thinking in fast motion”), nhưng thực tế cả hai lĩnh vực triết học và luật học đều liên quan đến tư duy lý trí và logic.

    Việc hành nghề pháp luật thường đòi hỏi phải chú ý nhiều đến kỹ năng hùng biện và thuyết phục hơn là triết lý, ít nhất bắt đầu từ thời đại của các Triết Gia vào thế kỷ thứ 5 TCN. Tuy nhiên, hàm ý miệt thị “phép hùng biện” xuất phát từ việc Plato thành công phỉ báng những triết gia hùng biện không nên là lí do gây nhầm lẫn cho chúng ta: thuyết phục vẫn luôn là một loại nghệ thuật triết học và nghệ thuật ấy chỉ bị mài mòn bởi những quy tắc logic chính thống hay không chính thống. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã khẳng định trong vụ Old Chief v. U.S (1997) rằng “một tam đoạn luận không phải là một câu chuyện, và một ý tưởng được đề xuất có phần thẳng thắn trong phòng xét xử có thể không tương thích với những bằng chứng mạnh mẽ được sử dụng để làm sáng tỏ nó, nhưng vẫn đủ tính thuyết phục” (Ý chỉ hình thức bên ngoài của lập luận tại tòa không quan trọng bằng sự thật khách quan ủng hộ lập luận đó – ND)

    Ngay cả khi nhìn nhận sự khác biệt thực tế giữa lập luận pháp lý và lập luận triết học, mối quan hệ giữa chúng cũng đủ rõ ràng đến mức hệ thống giáo dục pháp luật Hoa Kỳ lấy ý tưởng cho hầu hết các phương pháp sư phạm nổi tiếng của mình từ triết học (Phương pháp Socratic). Giảng viên luật đặt câu hỏi và tranh luận sòng phẳng với sinh viên, như Socrates chất vấn và tranh luận với công dân Athens về bản chất của kiến thức và công lý. Phương pháp này được cho là để minh hoạ và giảng dạy những kỹ năng tranh luận mà công việc luật sư cần phải có.

    Câu trả lời của triết học về những lằn ranh pháp lý

    Tuy nhiên, việc cân nhắc triết học với vai trò là một môn học liên kết bản thân nó với tất cả sự vật hiện tượng, kể cả khoa học, nghệ thuật, đạo đức hay pháp luật, cũng quan trọng không kém. Chúng ta luôn có thể hỏi rất nhiều thứ liên quan đến mọi lĩnh vực về hoạt động của con người, như “Bản chất của nó là gì? Điều gì làm nên nó? Nó là gì?”. Nhiều triết gia đã đặt những câu hỏi về lĩnh vực khoa học, nghệ thuật và cả luật pháp. Đây là lý do vì sao “Luật học” – triết học về bản chất của pháp luật và lý luận pháp lý, và sự khác biệt giữa pháp luật và đạo đức – đã trở thành một trụ cột trong mọi giáo trình luật, mỗi khi luật được giảng dạy ở các bậc đại học. Quả thật, đây là một môn học bắt buộc đối với mọi sinh viên luật tại Oxford và hầu hết các sinh viên luật ở Châu Âu và Nam Mỹ. (Luật là môn học cho bậc cử nhân, không giống như tại Mỹ, nó là chương trình sau đại học).

    Như nhiều phạm vi ảnh hưởng khác của truy vấn triết học, truy vấn triết học trong pháp luật, một cách đơn giản, đưa ra ánh sáng và làm rõ những vấn đề mà trước đó thường được cho là hoàn toàn và không thể tranh cãi. Tất cả chúng ta đã từng nghe ai đó chỉ trích quyết định của Tối cao pháp viện là “theo động cơ chính trị, hơn là áp dụng chính xác pháp luật”. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta nhận biết được lằn ranh giữa pháp luật và chính trị, chính xác như những gì mà một phần phạm vi của “Luật học” cố gắng điều chỉnh. Vì vậy, khi các nhà bình luận chỉ trích lập luận của thẩm phán để đưa ra quan điểm của mình, họ luôn đặt giả định về những lập luận về bản chất của pháp luật, giải thích pháp luật và tính chất của lý luận pháp lý. Đó chính là nhiệm vụ của luật học nhằm mang những giả định vào phạm vi điều chỉnh để kiểm soát.

    Triết học và các đóng góp vào hệ thống tư pháp

    Truy vấn triết học cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của luật pháp. Hans Kelsen và H.L.A Hart, hai triết gia vĩ đại người Áo và người Anh sống cách đây hàng trăm năm đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến pháp luật. Tác phẩm về luật học của Kelsen đã thể hiện đóng góp đáng kể của ông vào sự phát triển của nền pháp luật nói chung trên thế giới, bao gồm cả việc thành lập “Toà Bảo Hiến”. Cơ quan này chịu trách nhiệm về giám sát tính hợp hiến của việc ban hành pháp luật, một mô hình được áp dụng ở khắp các quốc gia có nền pháp luật dân sự trên thế giới. Thông qua việc mở rộng tầm ảnh hưởng triết lý thực dụng của John Stuart Mill, Hart từng là lực lượng tri thức đầu tàu trong việc xoá bỏ kết án đối với đồng tính luyến ái ở Anh vào những năm 1960.

    Trong môi trường học thuật, các nhà triết học đã có những tác động đáng kể đến nền học thuật pháp lý . Khi mô hình phân tích kinh tế pháp lý của trường Đại học Chicago ngự trị mảng pháp luật hàn lâm từ những năm 70, những triết gia như Ronald Dworkin và người đồng môn Chicago của tôi là Martha Nussbaum có một cách tiếp cận khác về pháp luật với thuyết “tối đa hoá thịnh vượng” như là mục tiêu cuối cùng của những chế định pháp lý.

    Một số tác phẩm triết học của bản thân người viết đã chứng minh sự hiểu biết sâu sắc về luật học của những người theo chủ nghĩa Pháp Lý Thực Chứng kiểu Mỹ – những người đã có tác động sâu sắc đến hệ thống pháp luật Hoa Kỳ và mô hình đào tạo pháp luật đã thảo luận ở trên – bằng cách tái cơ cấu vị trí triết học của họ và chống lại những chỉ trích của Hart. Trong hai mươi năm giảng dạy triết học pháp lý, bao gồm Chủ nghĩa Pháp Lý Thực Chứng kiểu Mỹ, người viết không khỏi kinh ngạc bởi số lượng sinh viên nhận thấy tính “thực tế” của khóa học này, không chỉ vì nó cung cấp các thông tin về những quy định của pháp luật, mà bởi vì nó giúp các sinh viên hiểu về lý luận pháp luật và cách thức thẩm phán đưa ra quyết định trong các vụ việc cụ thể, cũng như tạo cơ hội để mở rộng thứ giới hạn tuyệt đối của các học giả và người hành nghề luật.

    Nhà triết học David Hills của đại học Stanford, nổi tiếng với câu nói cho rằng triết học là “những nỗ lực vụng về để giải đáp những câu hỏi thường đến với trẻ con, thông qua phương pháp tự nhiên mà các luật sư thường sử dụng”. Trẻ em thường không thắc mắc về sự khác nhau giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực đạo đức, hay giữa sự chứng minh và lời bào chữa trong luật hình sự, nhưng luật sư và sinh viên luật thì có. Với những phương pháp của các nhà triết học, vốn tự nhiên gần gũi và không thể nghi ngờ sẽ tiếp tục được áp dụng ở những nơi nào dạy luật.

    Nguồn: Luật Khoa

  • 07/01/2016, 03:54:23 CH | Trong chuyên mục Vấn đề pháp lý khác

    phuong.ngo
    phuong.ngo

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:03/10/2011
    Tổng số bài viết (4)
    Số điểm: 50
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Kính thưa Luật Sư,

     

    Hiện nay tôi đang thuê mặt bằng trên tằng thượng của một toà nhà 8 tầng để kinh doanh nhà hàng.

    Sau 6 tháng kinh doanh tại địa điểm trên chủ toà nhà yêu cầu tăng tiền gửi xe nhân viên (trong HD có nêu rõ là 5,000đ lượt) họ yêu cầu 10,000đ lượt, khi chúng tôi không đồng ý vì họ đã vi phạm HD, Chủ toà nhà đã yêu cầu bảo vệ không giữ xe của chúng tôi (trong HD có nêu rõ những khu vực công cộng không thuộc quuyền sở hửu hoặc độc quyền của bất cứ bê nào)

    Nay chúng lại nhận thêm công văn yêu cầu tự lấp đền ở thang máy, cầu thang bộ, nhà vệ sinh những tầng chúng tôi thuê sau 18h vì Văn phòng toà nhà chỉ làm việc đến 18h (Trong HD chúng tôi có nêu rõ về phần kinh doanh của chúng tôi đến 2h sáng)

    Như vậy có phải họ đã vi phạm HD? chúng tôi yêu cầu một cuộc hợp vời chủ toa nhà nhưng hâu như vô hiệu. Khi chúng tôi có một sự cố nhỏ trong kinh doanh (nước bị tràngra ở nơi rữa chén) Chủ toa nhà tự ý cắt điện ở những tầng chúng tôi thuê và đưa ra mức phật la 1,000,000 (Những điều khoản này không có trong HD) và yêu cấu chúng tôi khắc phụ trong vóng 1 giờ

    Trong HD thuê chúng tôi có nêu rõ giờ kinh doanh của nhà hàng là 7giờ sáng đến 2giờ đêm, nay toà nhà gửi công văn thông báo, toà nhà sẽ đống của chính toà nhà lúc 11giờ đêm, nếu chúng tôi có khách còn bên trong thì hướng dẫn khác đi bộ xuống tầng hầm để xe máy rồi đi ra ngoài

    Mong LS tư vấn cho chúng tôi như thế nào là vi phạm HD và một bên có quền đưa ra nhưng luật lệ khác mà không cần bên còn lại đồng ý?

    Chân thành cảm ơn LS.

     

     

  • 07/01/2016, 03:53:03 CH | Trong chuyên mục Doanh nghiệp & Đầu tư

    quangminh201091
    quangminh201091

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:07/01/2016
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Chào luật sư

    Em đang có dự định mở 1 công ty chuyên sản xuất và phân phối sản phẩm game giống như cờ tỷ phú ( Monopoly ), bài Uno, cờ cá ngựa,.... Em đã tìm hiểu về việc mở công ty rồi. Tuy nhiên, sản phẩm của em gồm 2 loại chính

    1/ Game đã có ở nước ngoài được em Việt hóa hoàn toàn

    2/ Game chưa hề có trên thị trường được em nghĩ ra

    Luật sư xin cho em biết cần xin giấy phép hay thủ tục gì để có thể sản xuất và buôn bán 2 sản phẩm trên ạ

    Em cám ơn

  • 07/01/2016, 03:30:55 CH | Trong chuyên mục Doanh nghiệp & Đầu tư

    nguyenminhthu012
    nguyenminhthu012

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:07/01/2016
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Xin chào luật sư!

    Em muốn hỏi là nếu 1 đơn đặt hàng có các điều khoản: Thanh toán, giao hàng,.. thì có được xem là 1 hợp đồng mua bán hợp lệ nếu 2 bên mua bán ký vào không? 

    Và khi kết thúc đơn hàng, giả sử tổng số tiền bên mua đã trả nhiều hơn giá trị tổng hóa đơn đã nhận, lúc này cả 2 bên làm "Biên bản thanh lý hợp đồng" (có ghi rõ số tiền đã trả và giá trị hàng thực nhận và số tiền dư bên bán cần hoàn trả bên mua), rồi bên bán dùng biên bản thanh lý này để làm chứng từ thanh toán qua ngân hàng bằng tải khoản vay có được không?

    Câu hỏi cuối: 

    1 trường hợp khác, giả sử bên bán đã cung ứng hàng hóa dịch vụ cho bên mua và bên mua đã nhận hóa đơn và kê khai thuế và thanh toán đủ số tiền, nhưng sau đó bên mua mới phát hiện được số lượng hàng hóa không đủ số lượng như trong hóa đơn. Lúc này, bên bán cũng không thể giao thêm hàng vì đã hết hàng trong kho và 2 bên đồng ý lập hóa đơn điều chỉnh để giảm số lượng và giá trị của hóa đơn. Câu hỏi đặt ra: nếu bên bán muốn hoàn trả số tiền hàng giao thiếu cho khách hàng bằng tài khoản vay, bên bán có thể dùng hóa đơn điều chỉnh giảm này để làm chứng từ thanh toán gửi ngân hàng để thanh toán cho bên mua được không?

    Xin cảm ơn, rất mong hồi âm của luật sư!

     

  • 07/01/2016, 01:56:21 CH | Trong chuyên mục Tài liệu Pháp luật

    thailac.kk
    thailac.kk

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:06/04/2014
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Do nhu cầu học nên e đang tìm kiếm một số bản án về di chúc 
    cụ thể là di chúc sau hủy di chúc trước or di chúc sau có hiệu lực hơn di chúc trước 
    Anh chị  nào có có thể mail cho e được không ạ !  
    Em xin chân thành cám ơn 

    mail em: buivantuyen12101991@gmail.com

  • 07/01/2016, 12:58:32 CH | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    ckquocduy01
    ckquocduy01

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:07/01/2016
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Chào các bạn/anh/chị...

    Mình/em... là một sinh viên của trường ĐH Luật TPHCM, nay mình có một số vấn đề muốn nhờ các thành viên trong diễn đàn giúp đỡ:

    1. Xã hội có giai cấp chỉ tồn tại khi có nhà nước phải không? Có trường hợp nào ngoại lệ hay không?

    2. Áp dụng pháp luật luôn phải trải qua 4 giai đoạn đúng hay sai? Tại sao?

    Xin cảm ơn mọi người ạ.

  • 07/01/2016, 08:03:05 SA | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    hanhpham95
    hanhpham95

    Female
    Sơ sinh

    Thừa Thiên Huế, Việt Nam
    Tham gia:25/11/2015
    Tổng số bài viết (6)
    Số điểm: 105
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 0 lần


    nêu ví dụ về quan hệ pháp luật và phân tích các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật đó( chủ thể, khách thể, nội  dung)

  • 06/01/2016, 04:10:58 CH | Trong chuyên mục Vấn đề pháp lý khác

    ChuTuocLS
    ChuTuocLS
    Top 150
    Female
    Lớp 12

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:25/07/2009
    Tổng số bài viết (329)
    Số điểm: 21739
    Cảm ơn: 11
    Được cảm ơn 501 lần
    SMod

    >>> Thủ tục cấp đổi thẻ Căn cước công dân

    Từ ngày 01/01/2016, khi Luật Căn cước công dân 2014 bắt đầu có hiệu lực, người dân tại các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM đua nhau đi đổi Thẻ Căn cước công dân, đổi thẻ chứng minh nhân dân (CMND) 12 số.

    Nhiều bạn đọc thắc mắc rằng, giữa thẻ căn cước công dân và thẻ CMND có gì khác nhau? Mời các bạn xem chi tiết thông qua bảng so sánh sau:

    Tiêu chí

    CMND 12 số

    Thẻ căn cước công dân

    Định nghĩa

    CMND (nói chung – không phân biệt 9 số hoặc 12 số) là một loại giấy tờ tùy thân của công dân do cơ quan Công an có thẩm quyền chứng nhận về những đặc điểm riêng và nội dung cơ bản của mỗi công dân trong độ tuổi do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm thuận tiện việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của công dân trong đi lại và thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam.

    (Căn cứ Điều 1 Nghị định 05/1999/NĐ-CP)

    Căn cước công dân là thông tin cơ bản về lai lịch, nhận dạng của công dân.

    (Căn cứ Khoản 1 Điều 3 Luật căn cước công dân 2014)

     

    Kích cỡ, hình dạng thẻ

    - Hình chữ nhật.

    - Chiều dài 85,6mm.

    - Chiều rộng 53,98mm.

    (Căn cứ Khoản 1 Điều 3 Thông tư 57/2013/TT-BCA)

    - Hình chữ nhật.

    - Bốn góc được cắt tròn.

    - Chiều dài 85,6 mm.

    - Chiều rộng 53,98 mm.

    - Độ dày 0,76 mm.

    (Căn cứ Khoản 1 Điều 3 Thông tư 61/2015/TT-BCA)

    Nội dung mặt trước của thẻ

    - Hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    - Ảnh của người được cấp Chứng minh nhân dân cỡ 20 x 30 mm.

    - Có giá trị đến (ngày, tháng, năm).

    - Tiêu ngữ: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

    - Chữ "Chứng minh nhân dân".

    - Số CMND (12 số)

    - Họ và tên khai sinh.

    - Họ và tên gọi khác.

    - Ngày tháng năm sinh.

    - Giới tính.

    - Dân tộc.

    - Quê quán.

    - Nơi thường trú.

    (Căn cứ Khoản 2 Điều 3 Thông tư 57/2013/TT-BCA)

    thẻ CMND 12 số

    - Hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    - Ảnh của người được cấp thẻ Căn cước công dân.

    - Có giá trị đến.

    - Tiêu ngữ: CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

    - Dòng chữ “CĂN CƯỚC CÔNG DÂN”.

    - Số.

    - Họ và tên.

    - Ngày, tháng, năm sinh.

    - Giới tính.

    - Quốc tịch.

    - Quê quán.

    - Nơi thường trú.

    (Căn cứ Khoản 2 Điều 3 Thông tư 61/2015/TT-BCA)

    thẻ căn cước công dân

    Nội dung mặt sau của thẻ

    - Mã vạch 02 chiều.

    - Ô trên: vân tay ngón trỏ trái.

    - Ô dưới: vân tay ngón trỏ phải.

    - Đặc điểm nhận dạng.

    - Ngày tháng năm cấp CMND

    - Chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

    (Căn cứ Khoản 2 Điều 3 Thông tư 57/2013/TT-BCA)

    thẻ CMND 12 số

    - Trên cùng là mã vạch hai chiều;

    - Ô trên: vân tay ngón trỏ trái.

    - Ô dưới: vân tay ngón trỏ phải của người được cấp thẻ Căn cước công dân.

    - Đặc điểm nhân dạng của người được cấp thẻ.

    - Ngày, tháng, năm cấp thẻ Căn cước công dân.

    - Họ, chữ đệm và tên, chức danh, chữ ký của người có thẩm quyền cấp thẻ và dấu có hình Quốc huy của cơ quan cấp thẻ Căn cước công dân.

    (Căn cứ Khoản 2 Điều 3 Thông tư 61/2015/TT-BCA)

    thẻ căn cước công dân

     

    Năm cấp

    Năm 2012

    Năm 2016

    Thời hạn sử dụng

    15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại.

    (Căn cứ Khoản 2 Điều 4 Thông tư 57/2013/TT-BCA)

    Được tính theo độ tuổi phải đổi thẻ như sau:

    Thẻ Căn cước công dân phải được đổi khi công dân đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi.

    (Căn cứ Điều 5 Thông tư 61/2015/TT-BCA)

    Thời gian thực hiện thủ tục

    Tại thành phố, thị xã:

    - Cấp mới, cấp đổi: không quá 07 ngày làm việc.

    - Cấp lại: không quá 15 ngày làm việc.

    Tại các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo:

    Không quá 20 ngày làm việc.

    Các khu vực còn lại:

    Không quá 15 ngày làm việc.

    (Căn cứ Khoản 2 Điều 1 Nghị định 106/2013/NĐ-CP)

    Tại thành phố, thị xã:

    - Cấp mới, cấp đổi: không quá 07 ngày làm việc.

    - Cấp lại: không quá 15 ngày làm việc.

    Tại các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo:

    Không quá 20 ngày làm việc.

    Các khu vực còn lại:

    Không quá 15 ngày làm việc.

    (Căn cứ Điều 25 Luật căn cước công dân 2014)

    Vật liệu làm thẻ

    Chất liệu nhựa, ngoài cùng của 02 mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt.

    (Căn cứ Khoản 3 Điều 3 Thông tư 57/2013/TT-BCA)

    Chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt.

    (Căn cứ Khoản 4 Điều 3 Thông tư 61/2015/TT-BCA)

    Mức phí cấp mới, đổi, cấp lại

    Trường hợp thu nhận ảnh trực tiếp (ảnh thu qua camera)

    - Cấp mới: 30.000 đồng.

    - Cấp đổi: 50.000 đồng.

    - Cấp lại: 70.000 đồng.

    Trường hợp thu nhận ảnh gián tiếp (chưa tính tiền chụp ảnh)

    - Cấp mới: 20.000 đồng.

    - Cấp đổi: 40.000 đồng.

    - Cấp lại: 60.000 đồng.

    (Căn cứ Điều 2 Thông tư 155/2012/TT-BTC)

    - Đổi: 50.000 đồng.

    - Cấp lại: 70.000 đồng.

    (Căn cứ Khoản 1 Điều 6 Thông tư 170/2015/TT-BTC)

     

  • 06/01/2016, 12:37:19 CH | Trong chuyên mục Thuế - Phí - Lệ phí

    MAITRANG87
    MAITRANG87

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:10/03/2009
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 25
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 0 lần


    Chào luật sư!

    Bên em trước đây kinh doanh khách sạn, sau đó dừng kinh doanh khách sạn, chuyển sang dự án đầu tư Bệnh viện, đã có giấy chứng nhận đầu tư từ tháng 6 năm 2012. Đến T9/2014 công ty em ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với 1 bên B để cùng bỏ vốn xây dựng Bệnh viện, có quyết định thành lập ban dự án Bệnh viện từ T9/2014. Mọi hóa đơn chứng từ đầu vào đứng tên công ty em, sau này khi dự án hoàn thành thì Bệnh viện sẽ tách ra có tư cách pháp nhân, mã số thuế riêng. Hóa đơn đầu vào của dự án từ lúc có giấy chứng nhận đầu tư đên nay em vẫn kê khai chung với hóa đơn chứng từ của công ty (tất cả đều vào mẫu 01/GTGT).

    Luật sư cho em hỏi:

    1. Em có phải bắt buộc làm hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư trên không và phải làm từ lúc có giấy chứng nhận đầu tư cho dự án hay có thể làm từ lúc bên em ký hợp tác kinh doanh với Bên B.

    2. Nếu em phải làm hồ sơ khai thuế riêng cho dự án thì khi đủ điều kiện hoàn thuế khấu trừ (trên 300tr) em phải làm hồ sơ hoàn thuế cho số thuế đấy hay em cứ chuyển số thuế được khấu trừ sang kỳ tiếp theo và không bắt buộc phải làm hoàn thuế cho dự án.

    3. Khi dự án hoàn thành, Bệnh viện có tư cách pháp nhân riêng thì chi phí trong giai đoạn xây dựng cơ bản bên em đang hạch toán vào 241 thì giờ chuyển sang thành chi phí của Bệnh viện thì hạch toán như nào cho hợp lý ạ, số vốn mỗi bên đã chi ra trong giai đoạn XDCB sẽ được ghi nhận là vốn góp khi bệnh viện hoàn thành. Bút toán để chuyển giao vốn góp và chi phí giữa công ty em và Bệnh viện (khi đã có tư cách pháp nhân riêng) như nào ạ.

    Em chân thành cảm ơn! 

  • 06/01/2016, 09:47:55 SA | Trong chuyên mục Tài liệu Pháp luật

    Chào các bạn, đây là tài liệu hướng dẫn TỔ CHỨC TRẢ THU NHẬP ĐĂNG KÝ THUẾ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG, của Bộ tài chính ban hành. Có hướng dẫn cụ thể các bước thực hiện và mẫu hồ sơ

     

  • 06/01/2016, 08:46:34 SA | Trong chuyên mục Doanh nghiệp & Đầu tư

    Chào các anh chị,

    Công ty mình đang chuẩn bị thành lập công ty cổ phần với ngành nghề chính là sản xuất, mua bán điện, mình nhờ các anh chị tư vấn giúp:

    1. Thành lập mới: Cổ đông sáng lập là nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) được góp vốn để thành lập doanh nghiệp với tỉ lệ tối đa là bao nhiêu? có văn bản nào hướng dẫn không?

    2. Góp vốn vào công ty cổ phần: NĐTNN có bị hạn chế tỉ lệ góp vốn, mua cổ phần của DN Việt Nam trong ngành điện hay không?

    Rất mong nhận được sự tư vấn của các anh chị.

    Trân trọng.

     

     

  • 05/01/2016, 11:46:45 CH | Trong chuyên mục Tặng nhau Văn bản Luật

    Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, việc nghiên cứu, tìm hiểu hiến pháp của các nước trên thế giới có ý nghĩa rất quan trọng.

    Hiến pháp thường là văn bản thiết yếu, chứa đựng những quy phạm cơ bản nhất của hệ thống pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và  các quyền cơ bản của công dân. Bản thân các bản văn hiến pháp cũng chứa đựng trong đó những giá trị và ý nghĩa pháp lý, chính trị,văn hóa,lịch sử sâu sắc của từng quốc gia.Vì vậy, đã có những bản văn hiến pháp trở nên phổ biến, có giá trị tham khảo trên phạm vi toàn cầu.

    Để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về hiến pháp các nước trên thế giới của các đại biểu Quốc hội cũng như của đông đảo các chuyên gia, các nhà nghiên cứu, Trung tâm Thông tin,Thư viện và Nghiên cứu Khoa học, Văn phòng Quốc hội đã tổ chức biên soạn cuốn sách: “Tuyển tập Hiến pháp của một số nước trên thế giới”.

    Cuốn sách này sẽ giúp người đọc có những hiểu biết về Hiến pháp của các nước trên thế giới, qua đó có sự so sánh hiến pháp của các nước rút ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hiến pháp các nước, giúp ích cho quá trình học tập và nghiên cứu pháp luật. 

  • 05/01/2016, 05:33:02 CH | Trong chuyên mục Tình huống pháp lý tham khảo

    luatsutraloi3
    luatsutraloi3
    Top 150
    Male
    Lớp 4

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/08/2014
    Tổng số bài viết (333)
    Số điểm: 5068
    Cảm ơn: 195
    Được cảm ơn 89 lần


     

    Độc giả hỏi:

    Xin chào Luật Sư,

    Tôi có một số vấn đề rất mong nhận được sự tư vấn của Luật Sư.

    Do mâu thuẫn mẹ chồng nàng dâu, chồng tôi không hề hỏi đầu đuôi sự việc như thế nào mà chỉ cần nghe một phía từ mẹ anh ta và đối xử lạnh nhạt với vợ. Và vụ việc diễn ra khi vợ chỉ mới sinh con được 12 ngày. Và anh ta đòi ly hôn, trong khi hai con đang còn nhỏ, một đứa 28 tháng , đứa thứ hai mới được hơn 4 tháng. Và tôi không đồng ý ly hôn.

    Sở dĩ tôi đề cập qua sự việc trên là muốn LS nắm qua tình hình và tôi có được quyền lợi gì trong việc tranh giành quyền nuôi con không. Nếu chồng tôi nhất quyết đòi ly hôn và đơn phương ly hôn thì tôi có quyền nuôi cả hai con không ạ? Hiện cháu thứ hai chưa được 12 tháng anh ta không có quyền ly hôn đơn phương đúng ko ạ? Và khi nào anh ta sẽ có quyền đơn phương ly hôn ạ?

    Do thu nhập của tôi thấp hơn của chồng nhiều nên tôi sợ không được nhận nuôi tất hai con (lương hợp đồng của tôi là 9,5 triệu, còn chồng tôi thì làm tự do không có hợp đồng lao động và anh ta cũng không đóng các loại bảo hiểm xã hội). Nếu như tôi không ký đơn ly hôn bây giờ thì khi con thứ hai của tôi được 12 tháng tuổi thì anh ta sẽ có quyền đơn phương ly hôn và lúc đó con trai lớn của tôi đã được 3 tuổi, tôi sợ rằng sẽ không được quyền nuôi cả hai con.

    Do nhà chồng tôi không hề quan tâm và chăm sóc được con tôi, chồng tôi cũng thờ ơ với con cái. Anh ta đi từ sáng tới tối về chỉ chơi với con chút xíu là lại ôm máy tính và điện thoại nên nếu anh ta mà nuôi con thì tôi không an tâm. Tôi chỉ tha thiết được nuôi cả hai con. Do vậy mong luật sư tư vấn giúp tôi là sớm ly hôn khi con lớn dưới ba tuổi hoặc phải làm thế nào để tôi được nuôi tất hai con ạ?

    Mong đợi thông tin từ Luật Sư.

    Cảm ơn Luật Sư rất nhiều! 

    (Thanh Loan Nguyen

     BA of International Studies

    Department of International Studies

    HCMC University of Education

    Email: lavender88....@gmail.com

    HP: 091 634 8...)

     

    Luật Sư trả lời:

     

    Chào bạn!

    Cảm ơn câu hỏi của bạn đối với luật sư Newvision Law, đối với trường hợp của bạn tôi xin được tư vấn như sau:

    Thứ nhất, con bạn chưa đủ 12 tháng thì chồng bạn có quyền đơn phương ly hôn không?

    Theo quy định điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy địn về quyền ly hôn của chồng: “3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”

    Do đó khi con bạn chưa đủ 12 tháng tuổi thì chồng bạn không có quyền đơn phương ly hôn. Sau khi con bạn từ đủ 12 tháng tuổi trở lên thì chồng bạn có quyền đơn phương ly hôn.

    Thứ hai, về quyền nuôi con, theo pháp luật hôn nhân hiện hành được quy định như sau:

    Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

    1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

    2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

    3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

    Như vậy, khi hai con bạn đều dưới 36 tháng tuổi, thông thường khi bạn đầy đủ các điều kiện trên thì bạn có quyền nuôi cả hai con.

    Trong trường hợp 1 đứa con của bạn trên 36 tháng tuổi thì tòa án xét đến các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con để xem chồng bạn hay bạn có quyền nuôi. Thông thường khi cả 2 vợ chồng bạn đều có đủ điều kiện nuôi dưỡng thì Tòa án sẽ để mỗi người nuôi 1 cháu.

    Khi bạn muốn giành quyền nuôi cả 2 đứa con, thì ngay từ bây giờ, khi 2 con bạn đều dưới 36 tháng tuổi, bạn có thể yêu cầu đơn phương ly hôn, thì khả năng cao bạn sẽ giành quyền nuôi cả 2 con. Tuy nhiên, bạn cũng phải đảm bảo các điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con như pháp luật quy định.

     

    Trân trọng./.

     

  • 05/01/2016, 05:09:42 CH | Trong chuyên mục Tặng nhau Văn bản Luật

    nguyenanh1292
    nguyenanh1292
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/04/2014
    Tổng số bài viết (2370)
    Số điểm: 37442
    Cảm ơn: 333
    Được cảm ơn 2455 lần


    Từ ngày 15/02/2016, Nghị định 137/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật căn cước công dân 2014 có hiệu lực và thay thế Nghị định 90/2010/NĐ-CP.

    Theo đó, trình tự, thủ tục cấp số định danh cá nhân đối với công dân đã đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú được thực hiện như sau:

    Công dân đã đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú nhưng chưa được cấp số định danh cá nhân theo quy định thì khi làm thủ tục cấp thẻ Căn cước công dân, cơ quan quản lý căn cước công dân có trách nhiệm thu thập, chuyển các thông tin về công dân Khoản 1 Điều 9 Luật căn cước công dân cho cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của Bộ Công an, trong đó ít nhất phải có các thông tin:

    - Họ, chữ đệm và tên khai sinh.

    - Ngày tháng năm sinh.

    - Giới tính.

    - Nơi đăng ký khai sinh.

    - Quê quán.

    - Dân tộc.

    - Quốc tịch.

    - Họ, chữ đệm và tên, quốc tịch của cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp, trừ trường hợp chưa xác định được cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp.

    - Nơi thường trú.

    - Họ, chữ đệm và tên, số định danh cá nhân hoặc số Chứng minh nhân dân của chủ hộ, quan hệ với chủ hộ.

    Xem chi tiết Nghị định 137/2015/NĐ-CP tại file đính kèm.

  • 05/01/2016, 03:40:10 CH | Trong chuyên mục Vấn đề pháp lý khác

    >>> Nghĩa vụ quân sự 2016: Tất tần tật các trường hợp được tạm hoãn, được miễn

    >>> Giải đáp nghĩa vụ quân sự 2016

    Việc xin tạm hoãn nghĩa vụ quân sự phải viết đơn gửi đến Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi người xin tạm hoãn đang cư trú và được Chủ tich Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét và ra quyết định cho phép tạm hoãn nhập ngũ.

    Đơn xin tạm hoãn NVQS

    Công dân nam trong độ tuổi tham gia nghĩa vụ quân sự thuộc những trường hợp được tạm hoãn nghĩa vụ quân sự như đã nêu ở Luật nghĩa vụ quân sự 2015 có thể xin tạm hoãn nghĩa vụ quân sự. Việc xin tạm hoãn nghĩa vụ quân sự phải làm đơn gửi đến Ủy ban nhân dân cấp huyện và được sự xem xét và chấp nhận.

    Trong đơn xin tạm hoãn nghĩa vụ quân sự phải có đầy đủ các thông tin:

    Người nhận đơn là cơ quan chức năng có thẩm quyền là Ủy ban nhân dân cấp huyện.

    Các thông tin cá nhân cần thiết.

    Lý do xin tạm hoãn nghĩa vụ quân sự, có nghĩa là ghi rõ mình thuộc trường hợp nào trong số những trường hợp được pháp luật cho phép hoãn nghĩa vụ quân sự.

    Thời gian tạm hoãn.

    Cung cấp các giấy tờ khác chứng minh người viết đơn thuộc những trường hợp được tạm hoãn nghĩa vụ quân sự:

    + Giấy kết luận tình trạng sức khỏe của bác sĩ nếu thuộc trường hợp chưa đủ sức khỏe để tham gia nghĩa vụ quân sự;

    + Giấy xác nhận của UBND cấp xã về hoàn cảnh gia đình đối với trường hợp người là lao động duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng người không có khả năng lao động, gia đình bị thiệt hại nặng do thiên tai, dịch bệnh, tai nạn;

    + Các giấy tờ chứng minh quan hệ nhân thân đối với các trường hợp: có anh chị em đang phục vụ tại ngũ, là hạ sĩ quan, chiến sĩ tham gia nghĩa vụ công an nhân dân, thuộc diện di dân, giản dân trong 3 năm đến các vùng kinh tế khó khăn;

    + Đối với cán bộ công chức, viên chức, thanh niên xung phong phải có giấy xác nhận của đơn vị đang công tác;

    + Đối với học sinh, sinh viên phải có giấy xác nhận của Nhà trường nơi đang theo học.

    Công dân phải có trách nhiệm đảm bảo tính trung thực trong việc xin tạm hoãn nghĩa vụ quân sự. 

    Dưới đây là file đính kèm mẫu đơn, các bạn có thể tải về tham khảo.

  • 05/01/2016, 02:48:30 CH | Trong chuyên mục Theo dòng sự kiện

    nguyenanh1292
    nguyenanh1292
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/04/2014
    Tổng số bài viết (2370)
    Số điểm: 37442
    Cảm ơn: 333
    Được cảm ơn 2455 lần


    >>> Lịch sử hình thành hệ thống pháp luật Việt Nam

    Tùy từng thời kỳ lịch sử của đất nước mà hệ thống bộ máy nhà nước được thiết lập cho phù hợp với hoàn cảnh. Trải qua 05 lần thay đổi Hiến pháp, hệ thống bộ máy có những thay đổi đáng kể. Mời các bạn cùng Dân Luật điểm qua sự thay đổi này thông qua các bản Hiến pháp sau:

    HIẾN PHÁP 1946

    - Có hiệu lực: 24/11/1946

    - Hết hiệu lực: 01/01/1960

    Nghị viện nhân dân

    1. Là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

    Chính phủ

    1. Là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà.

    Cơ quan tư pháp

    1. Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gồm có:

    Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính

    1. Phương diện hành chính gồm 03 bộ: Bắc, Trung, Nam.

    Mỗi bộ chia thành tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyện chia thành xã.

    HIẾN PHÁP 1959

    - Có hiệu lực: 01/01/1960

    - Hết hiệu lực: 19/12/1980

    Quốc hội

    1. Là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và cơ quan duy nhất có quyền lập pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

    Chủ tịch nước

    1. Là người thay mặt cho nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về mặt đối nội và đối ngoại.

    Hội đồng Chính phủ

    1. Là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, và là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

    Tòa án nhân dân

    1. Là cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

    Trong trường hợp cần xét xử những vụ án đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt.

    Viện kiểm sát nhân dân

    1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân.

    Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính địa phương các cấp

    1. Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương.

    Uỷ ban hành chính các cấp là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân địa phương, là cơ quan hành chính của Nhà nước ở địa phương.

    HIẾN PHÁP 1980

    - Có hiệu lực: 19/12/1980

    - Hết hiệu lực: 18/04/1992

    Quốc hội

    1. Là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.

    Hội đồng nhà nước

    1. Là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội, là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Hội đồng bộ trưởng

    1. Là Chính phủ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan chấp hành và hành chính Nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.

    Tòa án nhân dân

    1. Là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Trong tình hình đặc biệt hoặc trong trường hợp cần xét xử những vụ án đặc biệt, Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt.

    ….

    Viện kiểm sát nhân dân

    1. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

    Các Viện Kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện Kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình.

    Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân

    1. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và chính quyền cấp trên.

    Uỷ ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương.

    HIẾN PHÁP 1992

    - Có hiệu lực: 19/12/1980

    - Hết hiệu lực: 01/01/2014

    Quốc hội

    1. Là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.

    Chủ tịch nước

    1. Là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại.

    Chính phủ

    1. Là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Tòa án nhân dân

    1. Là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt.

    Viện kiểm sát nhân dân

    1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

    Hội đồng nhân và Ủy ban nhân dân

    1. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên.

    Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân.

    ….

    HIẾN PHÁP 2013

    - Có hiệu lực: 01/01/2014

    - Hết hiệu lực: Chưa xác định

    Quốc hội

    1. Là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Chủ tịch nước

    1. Là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại.

    Chính phủ

    1. Là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.

    ….

    Tòa án nhân dân

    1. Là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.

    Viện kiểm sát nhân dân

    1. Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.

    Chính quyền địa phương

    1. Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:

    Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

    Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương.

    Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường.

    Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập.

    ..

    Để xem chi tiết, tải file đính kèm tại đây.

  • 04/01/2016, 08:17:51 CH | Trong chuyên mục Vấn đề pháp lý khác

    an0813
    an0813

    Sơ sinh


    Tham gia:23/05/2013
    Tổng số bài viết (5)
    Số điểm: 25
    Cảm ơn: 5
    Được cảm ơn 2 lần


    Tuyến đường B là đường đôi, có dải phân cách ở giữa, đã được tráng nhựa và biển báo chỉ dẫn, người dân đã tham gia giao thông trên đường, tuy nhiên chưa được thông xe kỹ thuật; vào ngày 27/5/2015, ông Phú điều khiển xe mô tô đi theo hướng Tây sang Đông nhưng không đi đúng chiều đi của mình mà đi vào chiều đi ngược lại, sát với dải phân cách, xe ông Phú có va chạm với xe mô tô do ông Thạnh điều khiển xe máy từ hướng Đông sang Tây đang đi theo hướng ngược lại (cũng sát với dải phân cách), hậu quả ông Phú bị thương nặng. 

    Ông Phú cho rằng mình không có lỗi bởi ông Phú cho rằng mình đi trên đường chưa được thông xe kỹ thuật nên không phải đi theo làn đường bên phải của mình nên buộc ông Thạnh phải bồi thường thiệt hại cho mình,

    Vậy cho hỏi ông Phú cho rằng mình đi đúng là có chính xác không?

252 Trang «<42434445464748>»

0 Thành viên đang online
-