SỐNG VÀ LÀM VIỆC THEO PHÁP LUẬT (34.2)
Đơn kiến nghị ngày 16/4/2010 gửi lãnh đạo các cấp được đương sự gửi cùng lúc với đơn phản ảnh, kiến nghị ngày 20/4/2010 có nội dung dưới đây, để phản ảnh, kiến nghị Văn phòng Chính phủ, Tổng Thanh tra Chính phủ xem xét công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, liên quan đến việc kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án kinh doanh-thương mại sơ thẩm số 401/2007, ngày 06/3/2007 của TAND Tp.HCM và bản án phúc thẩm số 129/KDTM-PT ngày 11/12/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Tp. HCM.
Công văn số 2688/HD-VP ngày 22/05/2010 do bà Võ Thị Quế, Trưởng phòng xử lý đơn thư - Văn phòng Thanh tra Chính phủ hướng dẫn đương sự ”gửi đơn đến Chánh án TAND và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao để được giải quyết theo quy định của pháp luật” là không phù hợp, do lẽ:
- Đương sự đã trình bày với Thanh tra Chính phủ việc đơn yêu cầu xem xét kháng nghị giám đốc thẩm bản án phúc thẩm đã dẫn được đương sự gửi đến hai cơ quan này nhiều lần; lần mới nhất là vào ngày 16/4/2010.
- Trong quá trình tố tụng vụ án, có các chứng cứ khách quan của đơn vị thứ ba cung cấp xác định các chứng cứ của bị đơn cung cấp Tòa án là giả mạo có dấu hiệu hành vi tội phạm tội hình sự, đã được đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn gửi đơn đến Tổng Cục Cảnh sát ngày 25/03/2003, và Tổng cục Cảnh sát có công văn trả lời số 346CV.C11(CIII) ngày 20/06/2003 nhưng sau đó chưa được xử lý, giải quyết cụ thể.
- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phúc thẩm không xem xét, không đề cập đến các chứng cứ khách quan có trong hồ sơ vụ án, cũng không đề cập đến các chứng cứ Tòa phúc án TAND tối cao tại Tp. Hồ Chí Minh đã có hai quyết định số 640 và 641/2007/QĐ-CCCC ngày 26.10.2007 gửi Ngân hàng TMCP Đông Á - Chi nhánh quận 1, Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an yêu cầu cung cấp chứng cứ phục vụ xét xử vụ án.
Đương sự kiến nghị Văn phòng Chính phủ và Tổng Thanh tra Chính phủ rà soát lại công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi thẩm quyền của Chính phủ theo qui định tại điều 81, khoản 1 điều 83 và điều 84 Luật khiếu nại, tố cáo (đã được sửa đổi bổ sung năm 2004 và 2005) để tham mưu Thủ tướng có sự phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong việc xem xét kháng nghị, xét xử giám đốc thẩm các bản án sơ thẩm và phúc thẩm đã dẫn.
Ngoài 64 tài liệu, chứng cứ gồm 144 trang A4 gửi kèm theo đơn ngày 16/4/2010; đương sự đã gửi bổ sung 32 tài liệu, chứng cứ gồm 104 trang A4 gửi kèm theo đơn ngày 20/4/2010 (đã upload trên diễn đàn này) để Văn phòng Chính phủ và Thanh tra Chính phủ xem xét đơn phản ảnh, khiếu nại.
Đây là yêu cầu chính đáng, căn cứ vào các quy định của Luật khiếu n��i, tố cáo để bảo vệ công bằng trong đạo đức kinh doanh và luật pháp, nâng cao uy tín Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn Việt Nam hội nhập với cộng đồng quốc tế.
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TP. Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 4 năm 2010
ĐƠN PHẢN ẢNH, KIẾN NGHỊ
v/v xin xem xét, hỗ trợ giải quyết yêu cầu kháng nghị giám đốc thẩm bản án kinh doanh-thương mại sơ thẩm số 401/2007, ngày 06/3/2007 của TAND Tp.HCM và
bản án phúc thẩm số 129/KDTM-PT ngày 11/12/2007 của Tòa phúc thẩm
TAND TC tại Tp. Hồ Chí Minh.
Kính gửi: - Ông Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng
Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ
16 Lê Hồng Phong, quận Ba Đình
- Thành phố Hà Nội -ĐT. 080 48139
- Ông Trần Văn Truyền,
Tổng Thanh tra Chính phủ
220 Đội Cấn, quận Ba Đình
- Thành phố Hà Nội -ĐT. 080 43490
Họ và tên: THÂN BÌNH, sinh năm 1948, thường trú tại 79 Ỷ Lan, phường Hiệp Tân, quận Tân Phú, tp. Hồ Chí Minh. ĐT. (08) 3865 6117, ĐTDĐ. 090 382 8502, Email: binhthan021048@yahoo.fr (2)
là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Công ty Acer Sales & Distribution.Ltd. Hongkong (Cty ASD); và đại diện theo ủy quyền Ông Yang Houng Pei (Ông Harry Yang) – người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án tranh chấp tiền nợ hợp đồng giữa nguyên đơn Cty ASD với bị đơn Cty TNHH SX Điện tử Vĩnh Thắng (Cty Vĩnh Thắng) và Cty TNHH Công nghệ Tin học Bách Thắng (Cty Bách Thắng)
Phản ảnh, kiến nghị Văn phòng Chính phủ, Tổng Thanh tra Chính phủ xem xét công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, liên quan đến việc kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án kinh doanh-thương mại sơ thẩm số 401/2007, ngày 06/3/2007 của TAND Tp.HCM và bản án phúc thẩm số 129/KDTM-PT ngày 11/12/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Tp. HCM (4)
- Đơn và hồ sơ xin xem xét kháng nghị giám đốc thẩm bản án sơ thẩm và phúc thẩm đã dẩn trên đây đã gửi đến Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao lần thứ nhất vào ngày 08/4/2008, lần thứ hai vào tháng 8/2009. Đương sự đã gửi đơn đến Văn phòng Quốc hội, báo Tuổi Trẻ để xin hỗ trợ việc xem xét kháng nghị giám đốc thẩm theo bảng kê tài liệu tham khảo đính kèm nhưng không nhận được thông tin phản hồi từ Tòa án nhân dân tối cao.
- Đương sự đã 2 lần gửi đơn đến lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân tối cao khiếu nại công văn số 2821/VKSTC-V12 ngày 15/09/2008 do Ông Phạm Ngọc Bình, Kiểm sát viên ký, nội dung “Viện Kiểm sát nhân dân tối cao xét thấy không có căn cứ để kháng nghị bản án theo thủ tục giám đốc thẩm” đều không nhận được thông tin phản hồi từ phía Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
- Ngày 17/4/2010 qua đường bưu chính V Express tôi đã gửi đơn ngày 16/04/2010 kèm theo hồ sơ xin xem xét kháng nghị giám đốc thẩm bản án kinh doanh-thương mại sơ thẩm số 401/2007 ngày 06/3/2007 của TAND Tp.HCM và bản án phúc thẩm số 129/KDTM-PT ngày 11/12/2007 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Tp. Hồ Chí Minh đến các cấp lãnh đạo:
| | Nơi nhận | Phiếu gửi số |
| - | Chủ tịch nước | VE 71 404251 3 VN |
| - | Chủ tịch Quốc hội | VE 71 404254 3 VN |
| - | Chánh án Tòa án nhân dân tối cao | VE 71 404255 3 VN |
| - | Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội | VE 71 404250 3 VN |
| - | Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội | VE 71 404253 3 VN |
| - | Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao | VE 71 404251 3 VN |
Bản sao kính gửi Ông Bộ trưởng Chủ nhiệm văn phòng chính phủ và Tổng Thanh tra chính phủ được đính kèm theo đơn này.
Nội dung phản ảnh, kiến nghị: (5)
- Tóm tắt sự việc dẫn đến việc phản ảnh:
1.1. Vào tháng 7, 8 năm 2000, Công ty Acer Sales and Distribution Ltd. Hồng Kông (sau đây gọi tắt là “ASD”) bán cho nhà phân phối sản phẩm Acer tại phía nam Việt Nam thời bấy giờ là Cty CP Điện tử Bách Thắng, địa chỉ 16 Đinh Tiên Hoàng, phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh 04 lô hàng linh kiện, máy vi tính hiệu Acer với tổng trị giá là FOB cảng Tp. HCM là 275.500 USD.
1.2. Bên mua Cty CP Bách Thắng đã nhận đầy đủ 04 lô hàng; thanh toán được 81.615 USD trong tổng trị giá FOB Cảng Mã lai 100.500 USD của lô hàng thứ nhất; tổng trị giá FOB Cảng xuất xứ của lô hàng thứ nhất và ba (3) lô hàng 2, 3, 4 còn lại là 193.885 USD bị đơn không thanh toán cho bên bán hàng (“ASD”).
1.3. Ngày 02/01/2002 Cty ASD do bà Lilia Wang, Tổng Giám đốc làm đại diện đã khởi kiện Cty Vĩnh Thắng và Cty CP Điện tử Bách Thắng tại TAND Tp.HCM, yêu cầu Tòa án buộc hai Cty nói trên phải thanh toán tiền nợ cho Cty ASD là 193.885USD và tiền lãi.
1.4. Trong lần thụ lý đầu tiên, hai thẩm phán Phạm Thị Hằng và Đỗ Khắc Tuấn thụ lý vụ án - vụ số 347/DSST ngày 06/03/2002; ngày 19/03/2003 TAND Tp. HCM có Quyết định số 206/QĐ-TĐC tạm đình chỉ giải quyết các vụ án dân sự do chưa triệu tập được ông Allen Weilong Lou (chồng bà Trần Hoài Phương Chi) tham gia vụ án. Sau đó, Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại Tp. HCM có Quyết định phúc thẩm số 199/DSPT ngày 25/06/2003 bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định tạm đình chỉ đã dẫn trên đây.
1.5. Ngày 22/7/2003 TAND Tp. HCM thụ lý xét xử vụ án đòi nợ này lần thứ hai, do Thẩm phán Đỗ Đức Vân Hồng thụ lý xét xử vụ số 1289/DSST; TAND Tp. HCM đã ban hành 03 Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 1763/KCTT ngày 23/07/2003, số 35 và số 36 /QĐKCCT ngày 23/09/2004 và 03 Quyết định thay đổi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 2116/QĐ ngày 25/08/2003, số 60 và 61/QĐKCCT ngày 25/11/2004.
Cuối năm 2004, Cty CP Điện tử Bách Thắng, địa chỉ 16 Đinh Tiên Hoàng, P. Đa Kao, Q. 1, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp trở thành Cty TNHH Công nghệ tin học Bách Thắng, đăng ký trụ sở cùng địa chỉ với Cty Vĩnh Thắng, tại số C12-C13 Nguyễn Oanh, P. 17, Gò Vấp, Tp. HCM, thay thế Cty CP Bách Thắng tiếp tục tham gia tố tụng vụ án.
Trải qua nhiều lần xét xử sơ thẩm, đình hoãn để tuyên án, sau đó xét xử tiếp với các hội đồng xét xử sơ thẩm khác nhau, đến 27/02/2007 TAND Tp.HCM đã đưa vụ án nói trên ra xét xử sơ thẩm và tuyên bản án sơ thẩm số 401/2007/KDTM-ST ngày 06/3/2007 bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Cty ASD. Nguyên đơn và ông Harry Yang – người liên quan cùng kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.
1.6. Ngày 06/11/2007 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Tp.HCM đưa vụ án nói trên ra xét xử phúc thẩm và tuyên bản án phúc thẩm số 129/KDTM ngày 11/12/2007 bác toàn bộ kháng cáo của Cty ASD và ông Harry Yang, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2. Chứng cứ để yêu cầu kháng nghị giám đốc thẩm bản án sơ thẩm 401/2007/KDTM-ST ngày 06/3/2007 và bản án phúc thẩm 129/KDTM ngày 11/12/2007:
2.1. Chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định tất cả 04 lô hàng nhập khẩu - do Cty ASD là chủ sở hữu – giao hàng cho Cty Vĩnh Thắng, Cty Bách Thắng đều được Công ty CP Bách Thắng lập tờ khai hải quan để nhận 3 lô hàng tại Hải quan Cảng Phước Long và 1 lô hàng tại Hải quan Tân Cảng, thành phố Hồ Chí Minh. Mục 37 của các tờ khai hải quan ghi nhận các chứng từ kèm theo gồm 4 hợp đồng thương mại giả mạo, 4 hóa đơn giả mạo có tổng giá trị CIF Cảng Tp. HCM là 64.310 USD. Chỉ riêng 04 vận đơn (Bill of Lading), 04 chứng chỉ đóng gói (Packing List), 04 chứng chỉ xuất xứ hàng hóa (Certificate of Origin – C/O) là các chứng từ thật vì các chứng từ này do Cty ASD gửi Cty Bách Thắng qua đường bưu chính để bên mua lập thủ tục nhận hàng.
Các chứng từ thương mại giả mạo trên đây do Cty CP Bách Thắng lập có tổng trị giá CIF cảng Tp. HCM, thấp so với giá thực tế FOB Cảng xuất xứ là 211.190 USD – nhằm mục đích để bị đơn thực hiện hành vi trốn thuế.
Bên bán ghi trên 4 hợp đồng giả mạo là 3 pháp nhân Acer Technologies Sdn. Bhd. Malaysia (Acer Mã Lai) – được Cty Bách Thắng cho là thay mặt Cty Acer Peripherals Asia Pacific Inc., Taiwan (Acer Taiwan), Logistron Services Pte Ltd., Singapore (Acer Singapore), Cty Acer Sales & Distribution.Ltd., Hongkong (Acer Hồng Kông).
Ngày 25/03/2003 tôi đã gửi đến Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh, Tổng cục phó Tổng cục Cảnh sát – Bộ Công an đơn xin xem xét hành vi có dấu hiệu tội phạm tội trốn thuế tại Cty CP Bách Thắng; công văn số 346CV.C11(CIII) ngày 20/06/2003 của Tổng cục Cảnh sát do Thiếu tướng Nguyễn Việt Thành ký tên, trả lời đã chuyển đơn của tôi đến Đ/c Giám đốc Công an Tp. Hồ Chí Minh để xem xét giải quyết. Sau đó việc khiếu nại, tố cáo đã không được giải quyết cụ thể.
2.2. Để thực hiện việc thanh toán ngoại hối tiền mua 04 lô hàng đã nhận, Cty CP Bách Thắng lập thêm 4 chứng từ giả mạo khác là 2 thư đòi nợ bằng điện báo của người hợp đồng ghi là do Cty Acer Technologies Sdn. Bhd. Malaysia (Acer Mã Lai) lập yêu cầu Ngân hàng TMCP Đông Á – chi nhánh quận 1 Tp. HCM lập 2 chuyển khoản điện tín giả mạo nội dung trả tiền mua 4 lô hàng cho 2 đơn vị thụ hưởng là:Beam Technology Pte. Ltd., Singapore: số tiền 57.661USD; Viewcom Technology Co. Ltd. Hồng Kông: số tiền 21.120 USD. Pháp nhân có tên trên 2 thư đòi nợ bằng điện báo (Acer Technologies Sdn. Bhd. Malaysia) không phải là bên bán hàng ghi trên 04 hợp đồng giả mạo; đồng thời hai pháp nhân thụ hưởng số tiền chuyển khoản do Cty CP Bách Thắng trả không có liên quan gì đến 03 pháp nhân bên bán hàng trong 4 hợp đồng giả mạo.
(Tài liệu stt 60, 60b, 62, 62b - bảng kê kèm theo đơn ngày 16/04/2010)
2.3. Trong tổng số tiền của 2 chuyển khoản trên, thực tế chi trả cho 4 hợp đồng giả mạo 005, 006, 007 và 008 chỉ có 50.362,10 USD; bị đơn không nộp Tòa án chứng cứ chứng minh bị đơn đã thanh toán số tiền còn nợ lại 13.677,00 USD, khẳng định rằng bị đơn chưa hoàn thành việc thanh toán đầy đủ tiền mua hàng (tính theo tổng trị giá CIF Cảng Tp. HCM của 4 hợp đồng giả mạo). (Tài liệu stt 61, 61b, 63, 63b - bảng kê kèm theo đơn ngày 16/04/2010)
2.4. Hai cấp Tòa sơ thẩm và phúc thẩm không căn cứ vào lời khai tại Tòa án của ông Harry Yang, Giám đốc Acer Computer Co., Thái lan, xác định:
- các hợp đồng bị đơn nộp Tòa án là hợp đồng giả mạo;
- ông không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm tháng 8, 9, 10 năm 2000 nên cá nhân ông không thể ký và gửi fax ngày 13/10/2000 đến Cty Win Technology Co., (Cty TNHH Vĩnh Thắng);
- ông không nhận số tiền mặt 4.920 USD của bị đơn trả cho hợp đồng 008.
2.5. Trang 11 bản án sơ thẩm ghi nhận:
- Đáng lưu ý là tại biên bản hòa giải ngày 22/01/2003 tại Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh, bà Chi thừa nhận có nhận 4 lô hàng này nhưng chỉ là việc Cty Bách Thắng giúp Cty Acer nhập các lô hàng này vào Việt Nam, sau đó giao các lô hàng này cho đại diện Acer tại Việt Nam, hoặc giao cho người khác theo chỉ định của Acer
- các hợp đồng thương mại do bị đơn không được coi là có giá trị chứng cứ để xem xét; bản fax do ông Harry Yang ký lập ngày 13/10/2000 từ Acer Computer Việt Nam gửi Win Technology Co., Ltd. có nội dung xác định “Cty Vĩnh Thắng & Cty Bách Thắng không còn khoản nợ nào trong sổ sách kế toán của chúng tôi”
Tòa phúc thẩm không đánh giá lời khai gian dối của bà Chi trên đây: nếu đúng là Cty CP Bách Thắng nhập hàng giúp Cty Acer thì vì lẽ gì bị đơn đã lập 2 chuyển khoản trả tiền mua 4 lô hàng này như trình bày tại mục 2.2. đã dẫn trên đây. Mặt khác, 04 hợp đồng thương mại này đã vi phạm khoản 4 điều 81 Luật Thương mại; trong hồ sơ vụ án không có chứng cứ quan trọng là 04 hóa đơn thương mại của 04 lô hàng nhưng Tòa phúc thẩm đã thừa nhận 4 hợp đồng mà bị đơn cung cấp cho Tòa là đúng sự thật, chấp nhận là chứng cứ làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án: “Hợp đồng này phù hợp với các chứng từ khác nên các cơ quan thẩm quyền mới cho phía bị đơn nhận hàng. Do đó, lời khai nại của đại diện ông Harry Yang không có cơ sở chấp nhận”. (Trang 11 bản án phúc thẩm)
2.6. Theo qui định tại Điều 28, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày 25.09.1989 và điều 20 Nghị định số 17-HĐBT ngày 16/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định các bên phải thực hiện thủ tục thanh lý hợp đồng kinh tế; khi hoàn tất hợp đồng, bên mua Cty CP Bách Thắng phải lập biên bản thanh lý hợp đồng với ba (3) pháp nhân bên bán sau đây:
- Acer Technologies Sdn. Bhd. Malaysia Hợp đồng số 005, 008ACER-BT
(bên bán thực tế là Acer Peripherals Asia Pacific Inc. Taiwan),
- Logistron Services Pte. Ltd. Singapore, Hợp đồng số 006ACER-BT
- Acer Sales and Distribution Ltd., Hongkong Hợp đồng số 007ACER-BT
Bản fax không đề ngày do ông Harry Yang, Giám đốc Công ty Acer Computer Co., Thái lan ký tên, gửi qua máy fax văn phòng Cty Acer Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh Việt Nam vào ngày 13/10/2000 là gửi đến Cty Win Technology Co., Ltd. (Cty TNHH Vĩnh Thắng). Bản fax không đề cập đến pháp nhân thứ hai của phía bị đơn là Cty CP Điện tử Bách Thắng (tên viết tắt: BACHT CORP.). Vậy trên cơ sở pháp lý nào bị đơn và 2 cấp Tòa sơ thẩm, phúc thẩm đánh giá chứng cứ fax này có giá trị thay thế biên bản thanh lý các hợp đồng (giả mạo), là chứng cứ xác định bên mua Cty CP Bách Thắng đã thanh toán đầy đủ tiền hàng với 3 pháp nhân bên bán đã ghi trên 4 hợp đồng giả mạo 005, 006, 007. 008: Cty Acer Mã Lai ; Acer Singapore và Acer Hồng Kông – ASD.
(Tài liệu số thứ tự 64a, 64b, bảng kê kèm theo đơn ngày 16/04/2010)
2.7. Việc mua bán giữa hai bên được thực hiện đúng theo các qui định của Điều 4 Luật Thương mại 1997 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và không trái với Điều 11 Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế.
- Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 46, 49, 58, 60, 64, 69 Luật Thương mại 1997.
- Bị đơn Cty CP Điện tử Bách Thắng chưa thực hiện nghĩa vụ trả tiền mua hàng cho người bán theo quy định tại Điều 46, 63, 71, 73 Luật thương mại.
2.8. Hai cấp Tòa sơ thẩm và phúc thẩm đều không đề cập đến các chứng cứ khách quan có trong hồ sơ vụ án - được các bên thứ ba cung cấp, để đánh giá lời khai gian dối, chứng cứ do bị đơn cung cấp về giá cả và điều kiện giao hàng CIF Cảng Tp. HCM ghi trên các hợp đồng giả mạo. Giá cả và điều kiện giao hàng thực tế phải là FOB Cảng xuất xứ:
2.8.1. Chứng cứ do đại diện đơn vị vận chuyển là Cty T&M Forwarding Ltd. tại Tp.HCM nộp Tòa sơ thẩm, gồm các Lệnh giao hàng, công văn của 2 Cty Vĩnh Thắng và Bách Thắng liên quan đến việc bà Trần Hoài Phương Chi yêu cầu điều chỉnh tên đơn vị nhận hàng trên vận đơn, từ Cty Vĩnh Thắng chuyển sang giao hàng cho Cty CP Bách Thắng .
2.8.2. Xác nhận ngày 28/09/2006 của Bà Nguyễn Thu Hồng, Phó tổng biên tập tạp chí PC World Vietnam về các thông tin giá cả thị trường sản phẩm Acer đã đăng trên tạp chí này vào thời điểm tháng 9, 10, 11 và 12 năm 2000, phù hợp với đơn giá FOB (cảng bốc hàng quy định) của các sản phẩm Acer thuộc 4 lô hàng Cty CP Bách Thắng đã nhận từ Cty ASD. (Tài liệu stt 54 - bảng kê kèm theo đơn ngày 16/04/2010)
2.8.3. Năm (05) thư đề ngày 27/09/2007 và 02/10/2007 của 5 nhà phân phối (đơn vị nhập khẩu) sản phẩm Acer tại Việt Nam, gồm: Cty CP Quốc tế MBA; Cty CP Thế giới số (Digiworld Corporation); Cty TNHH TMDV Quốc Việt (TEC Ltd.) tại Tp. Hồ Chí Minh và Cty CP Lam Phương, Cty CP Tin học và xây dựng Hạ Long tại Tp. Hà Nội với nội dung “Các công ty trực thuộc tập đoàn Acer đã và đang áp dụng điều kiện giao hàng FOB Cảng xuất xứ đối với các nhà phân phối sản phẩm Acer tại Việt Nam - không áp dụng điều kiện giao hàng CIF cảng Việt Nam”.
(Tài liệu stt 48, 49. 50, 51, 52 - bảng kê kèm theo đơn ngày 16/04/2010)
2.8.4. Nhận xét của cơ quan chuyên môn nghiệp vụ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tại công văn số 3153/PTM-PC ngày 08.10.2007 về lời khai báo của Bà Chi tại Tòa sơ thẩm như sau:“ người mua thay mặt người bán thanh toán cước vận chuyển khi hàng đuợc mua bán theo điều kiện CIF Incoterms 1990 là không bình thường theo Quy tắc chính thức của phòng Thương mại quốc tế về giải thích các điều kiện thương mại trong Incoterms 1990”
(Tài liệu stt 53 - bảng kê kèm theo đơn ngày 16/04/2010)
2.9. Tòa phúc thẩm cũng không đánh giá các chứng cứ được Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Tp. Hồ Chí Minh ban hành Quyết định yêu cầu thu thập chứng cứ:
2.9.1. số 640/2007/QĐ-CCCC ngày 26.10.2007 yêu cầu Ngân hàng TMCP Đông Á - Chi nhánh quận 1 cung cấp sao y bản chính của 49 chứng cứ là các chứng cứ kèm theo có liên quan đến 3 chuyển khoản của Công ty TNHH Vĩnh Thắng và 2 chuyển khoản của Công ty CP Điện tử Bách Thắng trả cho đơn vị thụ hưởng trong năm 2000
Tài liệu stt 3, bảng kê kèm theo đơn ngày 16/04/2010)
2.9.2. số 641/2007/QĐ-CCCC ngày 26.10.2007 yêu cầu Cục quản lý xuất nhập cảnh cung cấp ngày tháng nhập cảnh vào Việt Nam và xuất cảnh rời khỏi Việt Nam trong năm 2000 của ông Yang Houng Pei, sinh ngày 01/7/1957; quốc tịch Đài loan
(Tài liệu stt 4, bảng kê kèm theo đơn ngày 16/04/2010)
3. Kiến nghị:
3.1. Theo qui định tại điều 81 Luật khiếu nại, tố cáo (đã được sửa đổi bổ sung năm 2004 và 2005), nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kiến nghị Văn phòng Chính phủ và Tổng Thanh tra Chính phủ rà soát lại công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi thẩm quyền của Chính phủ, yêu cầu các đơn vị Ngân hàng TMCP Đông Á - Chi nhánh quận 1, Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an báo cáo Tổng Thanh tra Chính phủ về việc cung cấp chứng cứ cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Tp. Hồ Chí Minh theo yêu cầu tại các Quyết định số 640 và 641/2007/QĐ-CCCC ngày 26.10.2007 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Tp. Hồ Chí Minh.
Sở Công an thành phố Hồ Chí Minh báo cáo Tổng Thanh tra Chính phủ quá trình xử lý đơn tố cáo Cty CP Bách Thắng, trụ sở số 16 Đinh Tiên Hoàng, phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh có dấu hiệu hành vi tội phạm trốn thuế, theo nội dung công văn số 346/CV.C11 (CIII) ngày 20/6/2003 của Tổng cục Cảnh sát tại thành phố Hồ Chí Minh
nhằm làm rõ sự thật, đúng với bản chất của vụ án.
3.2. Theo qui định tại khoản 1 điều 83 và điều 84 Luật khiếu nại, tố cáo (đã được sửa đổi bổ sung năm 2004 và 2005), kiến nghị Văn phòng Chính phủ và Tổng Thanh tra Chính phủ xem xét, tham khảo ý kiến nghiệp vụ chuyên môn của các Vụ Ngoại hối Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam … tham mưu Thủ tướng Chính phủ có sự phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong việc xem xét kháng nghị, xét xử giám đốc thẩm các bản án sơ thẩm và phúc thẩm đã dẫn, bảo vệ công bằng trong đạo đức kinh doanh và luật pháp, nâng cao uy tín Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn Việt Nam hội nhập với cộng đồng quốc tế.
3.3. Các chứng từ thương mại giả mạo do Cty CP Bách Thắng và Cty TNHH Vĩnh Thắng lập, lời khai gian dối của Bà Trần Hoài Phương Chi trước Tòa án Việt Nam đã xúc phạm nhân phẩm và danh dự của ông Yang Houng Pei (Harry Yang) - Giám đốc Cty Máy tính Acer Thái lan từ nhiều năm nay; kiến nghị Văn phòng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ xem xét, hỗ trợ làm rõ sự thật, có hướng xử lý thích đáng hành vi vi phạm pháp luật của bị đơn và các cá nhân có liên quan.
Xin cám ơn và kính chào,
Người phản ảnh và kiến nghị,
Đại diện theo ủy quyền của
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyên đơn
Ông Yang Houng Pei (tức Harry Yang), Cty Acer Sales & Distribution Ltd. Hồng Kông
Giám đốc Cty Acer Thái lan
Thân Bình